Tìm nhau khắp nẻo luân hồi ,
Gặp nhau thoáng chốc ngỏ lời tri âm .

Giác Tâm

10 NGÔI SAO ĐIỆN ẢNH NỔI TIẾNG TRUNG QUỐC, QUY Y PHẬT GIÁO

Chung — Viết bởi giactam @ 05:40
 

        10 NGÔI SAO ĐIỆN ẢNH NỔI TIẾNG

           TRUNG QUỐC, QUY Y  PHẬT GIÁO


1. Lưu Đức Hoa:
Là một minh tinh rất nổi tiếng rất thành công trong sự nghiệp điện ảnh, là một trong tứ đại thiên vương của làng điện ảnh Hương Cảng. Đức Hoa tin Phật và học Phật ngay từ khi còn nhỏ, đệ tử năm giới của Đại Lão hòa thượng Diệu Liên chùa Linh Nham Đài Loan, được Hòa Thượng ban pháp danh là Huệ Qua.

 2. Tằng Chí Vĩ: Rất chí thành kính tín Phật giáo và luôn thúc đẩy trợ giúp cho những hoạt động truyền bá Phật giáo, đến với Phật giáo đã 11 năm. Trước đây, khi được phỏng vấn trên đài truyền hình, Chí Vĩ nói đã tin Phật 11 năm, nhờ tin Phật giáo, nên mới biết làm nhiều việc thện. Chí Vĩ còn nói thêm, làm thiện là mỹ đức của người Hồng Kông, còn bản thân quyết tín Phật giáo đã 11 năm là vì thấy Phật giáo không những chỉ là một tôn giáo đơn thuần, mà còn đầy tính học thuật.

 Ông cảm thấy nghệ nhân rất thích hợp tin Phật, vì họ khó đối diện nhiều nhất là những áp lực thăng trầm khi lên cao xuống thấp. Ông cho rằng, Phật giáo thường dạy về vô thường, những gì sở hữu hôm nay, ngày mai có thể tan biến tất cả, giáo lý như vậy sẽ giúp nghệ nhân tâm lý chuẩn bị.

 3. Mạnh Đình Vĩ :Là đại biểu minh tinh đã sớm xa rời náo nhiệt của chốn màn bạc, an vui với cuộc sộng yên tịnh đạm bạc, một lòng chuyên tâm kỉnh Phật và sống cuộc sống đầy Pháp lạc. Ngay từ lâu đã chế tác hoàn thành dĩa nhạc Phật giáo, một dĩa danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật. Mạnh Đình Vĩ luôn mang trong mình lý tưởng Bồ-tát.
Sau khi chia tay bạn nam, Mạnh Đình Vĩ sống độc thân 10 năm, trong năm tháng đó, cô thường chuyên niệm Nam Mô A Di Đà Phật, và đã phát nguyện ăn chay từ nhiều năm trước. Sau đó không những tiềm tâm học Phật, mà từ khi rời xa sự phát triển ca nhạc, thì chỉ chuyên phát triển âm nhạc Phật giáo. Mỗi ngày đều tụng công phu, đọc kinh sách tọa thiền. Bạn bè nói, cô ta trừ cạo đầu vào chùa ra, thì cuộc sống không khác gì cuộc sống của người xuất gia chân chính.

 4. Lý Liên Kiệt: Trên màn bạc là một võ thuật cao thủ, nhưng cuộc sống là một Phật giáo đồ kiền thành, thường tuyên truyền lấy tình thương làm chủ đề cho cuộc sống. Lý Liên Kiệt nói, tình thương là một thứ ban tặng chứ không phải là cầu mong, nên thường xuyên suy nghĩ chú ý cảm thọ của đối phương và cảm thọ của chính mình, tình thương như vậy sẽ bần vững lâu dài.

Khi được phỏng vấn sự vận tâm như thế nào trong mỗi vai diễn, Liên Kiệt trả lời, trong mỗi vai diễn anh đều thể hiện hết sức mình để diễn tốt nhất và xem đó như là vai diễn cuối cùng, nên phải nỗ lực hơn để thành công hơn. Cách trả lời này làm thính chúng khá ngạc nhiên vì không hiểu, nhưng Liên Kiệt đã giải thích rằng, đời người là vô thường, mạng sống chỉ trong hơi thở, trong tích tắc có thể chuyển sang đời khác. Tối nay đi ngủ, tôi không biết ngày mai mình có thức dậy nữa không, do đó, những gì làm hôm nay, tôi cố làm hết sức mình.

 Cho thấy giáo lý về vô thường của Phật giáo đã chuyển hóa, đã khiến Liên Kiệt sống ý nghĩa hơn trong từng công việc. Ảnh hưởng này là do Liên Kiệt đã ảnh hưởng sau đậm nhờ sống gần với những nhà Sư Tây Tạng khi đóng phim, khi tiếp xúc với Tăng nhân Tây Tạng, thấy những vị chân tu thường hay quán chữ "tử" (chết). Nhờ đó anh đã sớm hiểu, nhờ quán niệm về vô thường và sự chết chóc, con người mới có thể sống tốt hơn, phát triển tình thương, vàkhông tham đắm thế gian này.

 5 Lý Na: từng là minh tinh ca sĩ nổi tiếng bởi những ca khúc với chủ đề "Thanh tạng cao nguyên". Cuối năm 1997 bỗng nhiên mất tích, sau đó nghe nói cô ta qua Mỹ gia nhập Phật môn, xuống tóc xuất gia, cô ta nói "cuộc sống của tôi lúc trước không an lạc, nhìn bên ngoài thì khá phong phú, nhưng không có gì thực chất bên trong, dễ lún sâu vào con đường danh lợi, vĩnh vễn không thể đối diện với chính mình, nên tôi chọn con đường xuất gia tu Phật. Bây giờ có thể gọi Ly Na ngày xưa là Pháo Sư Xương Thanh."

 6. Kim Thành Võ: là một trong những Phật tử tu theo Mật tông, quy y Phật năm 97. Kim Thành nói, tự mình đối với thái độ tu hành rất tùy duyên. Kim Thành Võ tu hành theo Mật tông khá thành thục. Kim Thành nói, Phật giáo dạy cho anh ta sự định tĩnh, sự nhẫn nại, và tình thương yêu.

 7. Trần Hiểu Húc: Từng thủ vai chính quan trọng trong phim Hồng Lâu Mộng. Hiểu Húc do quá tâm thành kính tín Phật giáo nên đã thế phát xuất gia. Năm 1999, đi trên xe người bạn, tình cờ nghe băng thuyết giảng kinh Vô Lượng Thọ của Hòa Thượng Tịnh Không, trong kinh có giảng về sự trang nghiêm và vĩnh hằng của thế giới Tây phương Cực Lạc, lòng Hiểu Húc sáng lên, không một chút hoài nghi.

Sau đó, trong văn phòng làm việc của Hiểu Húc tôn trí một pho tượng Quan Âm. Hàng ngày, Hiểu Húc tha thiết cầu nguyện ngài Quan Âm gia hộ cho cô mau mau được bái kiến và học hỏi với Hòa thượng Tịnh Không. Hai tháng sau, Hòa thượng Tịnh Không đến Tân Gia Ba giảng kinh, Hiểu Húc liền khẩn gấp đáp máy bay qua đó. Hôm sau, được nghe Hòa thượng giảng kinh Hoa Nghiêm và còn được hầu chuyện thân mật với Hòa thượng. Chiêm ngưỡng tôn dung hiền hòa từ bi của Hòa thượng, Hiểu Húc biết được mình sớm đã có nhân duyên với Phật Pháp. Ngày thứ hai, Hòa thượng Tịnh Không truyền giới quy y cho hai chị em Hiểu Húc. Dấn thân lên con đường học đạo và hành đạo của Hiểu Húc bắt đầu từ đó.


 

   8. Trương Đông Kiện: là một minh tinh trẻ nổi tiếng của Hàn Quốc, cũng là một Phật khá tử thuần thành. Khi học cấp ba, Trương Đông Kiện bắt đầu đọc nhiều trước tác Phật giáo. Lúc đó, Trương Đông Kiện bị phẩu thuật vùng ngực, nhập viện hơn một tháng, nhờ đó, Đông Kiện có cơ hội đọc quyển "Vô Dục" của một cao Tăng Hàn Quốc trước tác.

 Quyển sách là người bạn giúp Trương Đông Kiện vượt qua sự cô đơn vắng vẻ trong những ngày trị bệnh, đồng thời mang đến cho anh ta niềm tin chiến thắng bệnh tật, cũng khiến Trương Đông Kiện thể hội được bác đại tinh thâm và vô hạn huyền diệu của Phật pháp. Có lẽ nhờ ảnh hưởng sâu tư tưởng Phật giáo, khiến Đông Kiện đưa ra 3 tiêu chuẩn hoàn thiện chính mình là : kỹ thuật diễn xuất tốt, tánh cách tốt, phẩm hạnh tốt.

9. Vương Phi : đệ tử năm giới của cao Tăng nổi tiếng Nepal Tố Ba Ninh Ba Xa. Vương Phi không những kiền thành tha thiết với Phật giáo, mà còn là hướng đạo sư cho bè bạn, từng đem âm thanh ca hát tuyệt diệu của mình ca xướng kinh văn âm nhạc Phật giáo. Vói cô, thanh âm kinh Phật trở thành món lương dược tốt nhất để tịnh hóa phiền não.

 Chút ít tiền có được nhờ phát hành băng đĩa, Vương Phi đều cúng dường vào việc cất xây chùa chiền. Công hạnh tu tập của Vương Phi ảnh hưởng rất lớn đến tín ngưỡng tôn giáo của nhiều bạn bè xung quanh.

 10. Ngoài ra còn có rất nhiều minh tinh nổi tiếng đã quy y và có tình cảm đặc biệt với Phật giáo như : Trương Thiết Lâm (vai vua trong phim Hoàn Châu Cách Cách ), Trương Quốc Lập (vai vua trong phim Khang Hy vi hành), Chương Tử Di, Thành Long, Thùy Trọng Đoan, Lục Tiểu Linh Đồng, Dư Thiếu Hoa............


Thuốc và Thai Phụ

Chung — Viết bởi giactam @ 17:17
 

        Thuốc và Thai Phụ

                                    

 Hỏi : Uống cảm Xuyên Hương có được không?


Các mẹ thông thái cho em hỏi với! Em mang bầu tuần thứ 23, em bị lây cúm từ mấy người làm cùng văn phòng. Em đã uống cảm xuyên hương rồi nhưng vẫn lo quá, không biết mang thai mà uống cảm xuyên hương có ảnh hưởng gì không ạh?

Đáp :


cảm xuyên hương cũng không có tốt cho bà bầu đâu bạn ah.Nếu bị chảy nước mũi nhiều thì bạn mua nước muối ở hiệu thuốc có bán đó mua thêm cái xi lanh nhỏ ve bơm vô mũi rồi lại hỉ ra.cũng không đỡ ngay đâu nhưng cũng khá lên nhiều

Hỏi :Uống cảm Xuyên Hương có được không?


Nguyên văn trên dân trí đây ạ:
Thứ Ba, 15/04/2008 - 11:37 AM
Phụ nữ có thai không nên dùng cảm xuyên hương
Gần đây, rất nhiều người dân đã bày tỏ sự quan tâm và bức xúc về việc sản phẩm thuốc Cảm xuyên hương (CXH) do Công ty cổ phần Dược phẩm Yên Bái sản xuất in chỉ định ngay trên vỏ bao bì: "Thuốc này có thể dùng cho phụ nữ mang thai và cho con bú".
Điều đáng nói là, dù chưa có cơ quan nào kiểm nghiệm, đánh giá về điều ấy, nhưng sản phẩm vẫn được cấp giấy phép và lưu hành phổ biến trên thị trường.

Tại buổi tọa đàm "CXH có dùng được cho phụ nữ có thai và cho con bú? do Báo Khoa học & Đời sống tổ chức ngày 11/4, ThS. Nguyễn Văn Quân - Học viện Y dược học Cổ truyền Việt Nam đã bức xúc: "Nếu thuốc CXH Yên Bái dùng được cho phụ nữ có thai thì đó sẽ là điều kỳ diệu trên thế giới".

Theo ThS. Nguyễn Văn Quân, việc sử dụng thuốc cho phụ nữ mang thai phải có kết quả nghiên cứu kỹ lưỡng, lâu dài và mang tính đạo đức cao.
Hiện nay trên thị trường, các loại thuốc có thành phần giống hệt CXH Yên Bái như Nang cảm cúm của Haipharco, Viên cảm cúm của Công ty cổ phần Dược phẩm Quảng Ninh, Hà Nội... nhưng đều khuyến cáo không dùng cho phụ nữ có thai.
Hơn nữa, từ xưa tới nay chưa có một nghiên cứu nào đối với nhóm thuốc CXH sử dụng cho trường hợp phụ nữ mang thai trên lâm sàng nên nếu mạo hiểm sử dụng những thuốc này dễ xảy ra những biến cố đáng tiếc.
TS. Trần Hòa Bình, trường ĐH Dược Hà Nội cũng bày tỏ quan điểm rằng: "Tôi thực sự lo ngại khi thấy khuyến cáo CXH dùng được cho phụ nữ có thai và cho con bú".
Bởi trong sản phẩm thuốc này có 6 vị
(xuyên khung, bạch chỉ, hương phụ, quế nhục, gừng, cam thảo bắc)
thì có đến 5 vị gây cay ôn, làm tăng sinh năng lượng, làm nóng cơ thể, lại cộng với thể trạng của phụ nữ mang thai vốn đã nóng (tăng lưu lượng máu 30%, tăng lưu lượng tim 30 - 40% so với phụ nữ bình thường), do đó rất dễ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.
Trong khi đó, ông Nguyễn Xuân Hướng, Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam phân tích, phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu rất nhạy cảm với phản ứng của thuốc.
Nếu sử dụng CXH cho phụ nữ có thai mắc cảm hàn thì không sao, hay cũng có thể dùng CXH cho phụ nữ cho con bú được. Nhưng nếu phụ nữ đang mang thai bị cảm nhiệt thì không nên dùng CXH, vì có thể làm chết lưu thai nhi.
Ông Hướng bày tỏ thắc mắc về việc tại sao thuốc in chỉ định sử dụng cho phụ nữ có thai ngay trên vỏ hộp thuốc mà vẫn được cấp giấy phép sản xuất, lưu hành.
Về phía nhà sản xuất, ông Hy Văn Lạng - Giám đốc Công ty cổ phần Dược phẩm Yên Bái chỉ trả lời rằng, hiện thuốc đã được bán rộng rãi trên thị trường nhưng vẫn chưa có một phản ứng, hay báo cáo, đánh giá gì về những phản ứng của thuốc gây ảnh hưởng xấu đến phụ nữ mang thai.
Theo Duy Tiến
An ninh thủ đô
Và link đây ạ: http://dantri.com.vn/suckhoe/Phu-nu-...8/4/227934.vip

Hỏi: Uống cảm Xuyên Hương có được không?


Bạn tớ bị cúm nặng đợt 2 tháng - sốt cao, nôn mửa nhiều lắm ! đợt đó k biết nên uống thuốc gì? Nó đành uống cảm xuyên hương - nghe nói lành nhất trong các loại thuốc cảm. Giờ đẻ con béo mập , khỏe mạnh, tăng kg vèo vèo ^^ !

Tớ đi học tiền sản VP thì bác sĩ ko nói đến vụ CXH mà chỉ khuyên dùng Panadol thui - nhưng chắc sau 3 tháng ?

Tớ sốt 2 lần trong vụ mang thai rùi, chả thuốc men gì? nằm nghỉ ngơi, cố ăn thật nhiều thứ mát, nước gừng... hết vẹo ! thíe mà may ko seo !

Hỏi :Uống cảm Xuyên Hương có được không?


Trích:

Nguyên văn bởi blackgoose

Chị hàng xóm nhà tớ hồi chửa hay bị cảm toàn uống CXH, đẻ ra trộm vía thằng cu ko làm sao nhưng hay bị ho lắm. Tớ cũng bị cúm đợt 8 tuần, thấy mọi người khuyên ăn tỏi nên làm theo, ăn xong nôn ra hết. Đợt đấy còn bị sốt 38 độ, đau hết người. Bình thường là đánh gió đỡ ngay nhưng mọi người bảo ko được đánh gió khi bầu nên đành chịu thôi. Cứ ăn cháo trứng với hành tía tô, uống vài cốc nước chanh làm thêm một viên Paracetamon cho đỡ đau xong một ngày là hết, chỉ còn hơi khụt khịt với đau họng thì chịu khó súc miệng nước muối và nhỏ nước muối pha loãng của trẻ sơ sinh vào mũi mấy ngày là hết. Ko dam uống CXH khi đọc bài báo trên dù ai cũng bảo tớ là uống được.

Đang mang thai Paracetamon lại uống được hả bạn ?

Hỏi: Ðề: Uống cảm Xuyên Hương có được không?


Uh tớ thấy BS của tớ cho đơn thuốc uống lúc tớ ốm bao gồm kháng sinh amoxilin và thuốc giảm đau paracetamon, mà cả hai bác sĩ nhé. Nhưng mẹ tớ thấy tớ như vậy chỉ cho tớ uống para thôi, ko nên dung kháng sinh trừ sốt khi cao trên 38 độ mà như vậy thì nên đến bệnh viện. Mà para thì dùng loại liều thấp là 250mg thui vì nó có cả loại 500mg, tớ ko nhớ rõ lắm vì tớ mua 2 lần là hai loại khác nhau, một to một nhỏ.

Hỏi: Ðề: Uống cảm Xuyên Hương có được không?


Hix, đợt 14 tuần tớ cũng bị cảm, uống 2 viên cảm xuyên hương thấy đỡ là thôi luôn. Bây giờ đang 20 tuần, vừa siêu âm hôm nay, trộm vía con không sao cả.
Ngày ấy cũng không định uống, cũng đã từng đọc thông tin cảm xuyên hương không dùng đc cho bà bầu, nhưng
mệt quá nên vẫn uống, hix hix. Hy vọng ko việc gì!

Hỏi: Ðề: Uống cảm Xuyên Hương có được không?


Với phụ nữ đang mang thai, khi bị ho hoặc sốt có thể dùng thuốc có thành phần acetaminophene (như Tylenol, Atasol) giúp giảm đau và hạ nhiệt.
Còn khi sốt từ 38,3 trở lên thì phải hỏi bác sĩ thôi.
Các loại thuốc đều ghi thành phần chính là gì đấy, như decolgen theo mình nhớ là paracetamon thì phải, vì mỗi hãng dược họ đặt tên khác đi thôi, bạn hỏi dược sĩ chắc họ biết đấy, hoặc bạn xem trên nhãn thuốc sẽ có ghi rất cụ thể.
Mong bạn mau khỏe

Hỏi:

Ðề: Uống cảm Xuyên Hương có được không?


Lúc mình có em bé được 9 tuan mình cũng bị cảm và uống cảm XH, uống dc 2 viên mình k an tâm hỏi thử bạn bè ( đã có em bé) họ bảo k được uống thuốc đấy, lo quá nên k dám uống nữa. Sốt mình toàn lấy đá và khăn ướt lau người. Bạn mình mách mình 1 cách là bị cảm lấy lá tía tô, cho vài lát gừng , vài lát xả ( chủ yếu là lá tía tô nhé) nấu lấy nước uống, uống càng nhiều càng tốt, bạn mình bị cảm toàn uống thế, trộm vía sinh ra 1 cu cậu kháu lắm giờ bé đựoc 2 tuổi rồi. Mình cũng làm theo cách này nhưng nói thật mình nghén nên uống nước đó khó trôi. Nhưng cũng đừng lo lắng quá vì bạn mình lúc có bầu cu cậu cũng k biết uống hết 1 vỉ cảm XH, sau đọc báo thấy bảo k nên uống mới biết.

Hỏi: Ðề: Uống cảm Xuyên Hương có được không?


Nghe các mẹ nói thế em cũng ko uống cảm XH nữa, nhưng đã trót uống 2 ngày rồi. Từ hôm qua mua nước muối sinh lý về rửa mũi, xúc miệng, uống nhiều nước cam thấy cũng đỡ hơn rồi! Nhưng mấy hôm nay thời tiết Hà Nội kinh khủng thật, nóng và oi quá! Các mẹ ở HN

chú ý giữ sức khỏe nhé!


Nguon: Webtretho.com

     

                                 


THIỀN và SỨC KHỎE

Chung — Viết bởi giactam @ 16:04
 

     THIỀN và SỨC KHỎE     



        BS Đỗ Hồng Ngọc

       
Sức khỏe đựơc định nghĩa  " là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái (well-being, bien-être) về thể chất, tâm thần và xã hội, chớ không phải chỉ là không có bệnh hay tật " (WHO, Tổ chức sức khỏe thế giới, 1946) . Một định nghĩa như thế cho thấy cái gọi là "sức khỏe" của một con người không thể chỉ khu trú vào chuyện có hay không có bệnh, tật; cũng như không thể đánh giá sức khỏe của một cộng đồng mà chỉ dựa vào tỷ lệ giường bệnh, tỷ lệ bác sĩ...! Cái khó ở đây là làm cách nào đánh giá được "tình trạng sảng khóai" về cả ba mặt, thể chất, tâm thần xã hội như định nghĩa đã nêu? Đánh giá sự sảng khoái, sự hài lòng trong cuộc sống -cũng chính là hạnh phúc- là chuyện không đơn giản chút nào! Chính vì thế mà mãi nửa thế kỷ sau, WHO mới đưa ra đựơc một bảng "Đánh giá chất lượng cuộc sống" (Quality of Life Assessement) để cụ thể hóa định nghĩa sức khỏe đã nêu trên.

         WHO định nghĩa Chất Lượng Cuốc Sống (CLCS) là những cảm nhận của các cá nhân về cuộc sống của họ trong bối cảnh văn hóa và các hệ thống giá trị mà họ đang sống, liên quan đến  các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ.   Điều dễ thấy ở đây là cách đo đạc CLCS  đặt  trọng tâm lên cảm nhận cá nhân của từng người, cho thấy có cái nhìn khác xưa đối với bệnh tật và sức khỏe lâu nay chủ yếu dựa vào "cảm nhận" của thầy thuốc và sự "mách bảo" của máy móc xét nghiệm!

        Trên thực tế, người thầy thuốc chỉ có thể chữa đựơc cái đau mà không chữa đựơc cái khổ, chỉ có thể chữa đựơc cái bệnh mà không chữa được cái hoạn. Do vậy mà dù khoa học y học ngày càng phát triển với những thành tựu đáng kinh ngạc nhưng cũng chỉ là manh mún và thiếu sót, tình trạng tâm thần, tự tử, bạo lực, bất an và các bệnh do hành vi lối sống gây ra như tim mạch, tiểu đường, béo phì...  cứ ngày càng phát triển!         Thiền, phải chăng là một lối thoát?

       Cho đến nay, các nhà y học chính thống và bảo thủ nhất cũng đã phải công nhận thiền là một phương pháp trị liệu khoa học và hiệu quả trên một số bệnh lý, cũng như cải thiện cả hành vi và lối sống, đem lại những hiệu quả tích cực cho sức khỏe của cá nhân và cộng đồng. Ngày càng có nhiều nghiên cứu về lâm sàng và về sinh lý học trong thiền nhằm soi sáng nhiều điều trước đây chỉ được biết qua kinh nghiệm. Nhưng thực ra thiền không dừng ở đó. Thiền Phật giáo lại còn có những sắc thái riêng biệt, đáng đựơc nghiên cứu và thể nghiệm.    

         Khi Phật phát hiện ra con đường dẫn đến an vui, hạnh phúc, chính Ngài cũng ngại ngùng không muốn tiết lộ, không muốn bày tỏ, vì con đường đó lạ lùng quá, ngược đời quá, khó có ai tin, có khi còn gây phản ứng ngược. Mãi sau Ngài mới chịu nói ra, và dĩ nhiên rất đắn đo, nói từng phần, với mỗi người một cách khác nhau, tùy đối tượng. Bây giờ các thiền sư chứng ngộ cũng chỉ chọn một vài học trò có căn cơ để truyền đạt, vì truyền không dễ, nhiều điều "nói không được". Học trò phải quan sát trực tiếp ở thầy và phải thực hành miên mật. Có những học trò uyên thâm mà không đi tới đâu, loay hoay không thoát; có học trò giã gạo, nấu cơm, không biết chữ mà đại ngộ. Cho nên tin không dễ! Phật đã chẳng luôn nhắc nhở  đừng vội tin, phải thực hành, phải thể nghiệm, phải trực tiếp lấy thân tâm mình để mà quan sát chiêm nghiệm cho thật thấu đáo đó ư? Phật đã chẳng luôn nhắc nhở phải tinh cần, tinh tấn, miên mật, không được lơ là, chểnh mảng việc thực hành đó ư?         

      

         Trong đời sống thường ngày, những người bình thường như chúng ta cũng có thể có những phút "ngộ": đời là vô thường,  là bóng câu qua cửa sổ, là bọt bèo, là giấc mộng, Nhưng ta chỉ "ngộ" một chút rồi quên, rồi "trôi lăn" theo những tham sân si, những quấn quít chằng chịt không sao thoát nổi! Ngay những triết gia quay quắt tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời, sự hiện hữu của kiếp người cũng vẫn loay hoay với bao triết thuyết rồi đâu vào đó. Hẳn phải có một con đường khác. Phật khẳng định có con đường khác đó: "Đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí...". Đó chính là con đường hạnh phúc mà Phật đã  trải nghiệm với nụ cười tự tại trên môi, con đường nhất quán, xuyên suốt 45 năm tận tụy sẻ chia cho mọi người từ ngày Thành Đạo. Đó là con đường thực nghiệm, không lý thuyết suông, không hý luận, được kiểm chứng và có tính phổ quát. Những lời dạy cuối cùng của Phật cùng các đệ tử cũng đã không quên nhắc lại "con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh..." này, bởi sợ rằng ngày sau  người ta lại có thể say mê với những tranh luận, hý luận, mà quên thực hành, thể nghiệm. Con đường đó chính là thiền định, từ đó dẫn đến tụê giác, giải thoát rốt ráo.

         Thiền đã có từ rất lâu đời. Có lẽ từ ngày xa xưa con người tình cờ phát hiện ra những giây phút rơi vào trạng thái an lạc, sảng khoái, siêu thoát nào đó, một trạng thái  nói không được, mà chỉ có thể cảm nhận, trực nhận bởi chính bản thân mình, rồi tích lũy kinh nghiệm, truyền đạt lại cho nhau bằng nhiều cách. Chính đức Phật, trong khi tìm kiếm con đường giải thoát, tình cờ nhớ lại tuổi ấu thơ của mình đã có lần rơi vào trạng thái sơ thiền này mà nhanh chóng phát hiện ra con đường riêng của mình, con đường không những "diệt trừ khổ ưu" mà còn dẫn đến "thành tựu chánh trí". Trước đó ngài đã từng rời bỏ những con đường thiền khác. Rõ ràng thiền đã có từ xa xưa nhưng thiền Phật giáo có những sáng tạo riêng. 

         Thế nhưng đọc cả chồng sách luận về thiền, ta càng bị tẩu hỏa nhập ma, bởi có lẽ nó là cái gì đó "bất khả thuyết" và đặc biệt "bất khả đắc" khi ta nóng lòng muốn "chộp" lấy nó! Nó như thách thức những học giả, những trí thức mà lại mỉm cười với anh hàng thịt, người gánh rau, bởi nó đòi hỏi sự tinh tấn thực hành, sự nhẫn nhục thể nghiệm trên chính bản thân mình hơn là ngàn chương khảo luận. 

       Có một sự nhất quán, xuyên suốt trong lời dạy hướng dẫn kỹ năng thiền định của   Phật, từ Tứ niệm xứ (Satipatthàna) tới Thân hành niệm ( Kàyagatàsati), rồi Nhập tức xuất tức niệm (Ànàpànasati), đó là thở: Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn... Tóm lại, đó là luôn bắt đầu bằng sự quán sát hơi thở, đặt niệm (nhớ, nghĩ) vào hơi thở. Chỉ có vậy. Mà vô vàn. Mà nói không được! Bản dịch Vịệt nào cũng viết: "Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra..." có thể gây nhầm lẫn ở đây chăng? Thở thì ai mà chả biết thở kia chứ! Thế nhưng ở đây không phải là biết thở, biết cách thở mà là nhận thức được (discern, recognize), ý thức rõ (realize), cảm nhận đựơc (perceive) cái sự thở, cái hơi thở đang đi vào và đang đi ra kia kìa, đó mới là điều cốt lõi!  

       Dù gọi là Thiền (Việt) hay Chan (Hoa), Zen ( Nhật)... thì cũng đều có nguồn gốc từ  Dhyana (Sanskrit) hay Jhanas (Pali). Theo ngữ nguyên thì Jha là nhìn, là quán sát, là theo dõi và Ana là thở, là hơi thở, là khí. Vậy, jhanas hay dhyana chính là quán sát hơi thở, nhận thức hơi thở.  Đơn giản vậy mà thực ra không giản đơn chút nào! Nó như là một chìa khóa căn bản. Phải mở cái cửa này đã rồi các cửa khác mới mở tiếp được.Vấn đề là tại sao và cách nào để chỉ từ một việc có vẻ rất giản đơn là quán sát hơi thở lại có thể dẫn tới tuệ giác, một sự chuyển hóa từ "khí" mà thành "trí"?

.      Câu hỏi đặt ra là tại sao quán sát hơi thở? Quán sát hơi thở  thì có gì hay?  Sao lại không các đối tượng khác để quán sát? Thật ra thì quán sát cái gì cũng được cả, bởi tất cả đều là pháp- nhứt thiết pháp giai thị Phật pháp- nhưng quán sát hơi thở thì có điều kiện để thấy "ngũ uẩn giai không" hơn, tức thấy vô ngã hơn. Vô ngã ở đây không còn là một ý niệm, một khái niệm mà là một trạng thái.  

       Để thấy "vô ngã" thì tốt nhất là quán sát từ "ngã", từ hơi thở chẳng hạn, một đối tượng sẵn có ngay trong bản thân mình.  Tim đập cũng lúc nhanh lúc chậm, nhưng khó theo dõi, hoàn toàn ngoài ý muốn, khó can thiệp. Dạ dày thì làm vịệc âm thầm, khó quan sát. Các bộ phận khác cũng vậy. Trừ hơi thở! Hơi thở dễ quan sát nhất vì nó nằm ngay trước mũi mình, ngay dưới mắt mình! Lúc nào cũng phải thở. Ở đâu cũng phải thở. Cái hay nữa là quán sát nó thì không ai nhìn thấy, chỉ riêng ta biết với ta thôi! Mỗi phút lại phải thở cả chục lần. Lúc mau lúc chậm, lúc ngắn lúc dài, lúc phì phò lúc êm dịu. Hơi thở  lại rất nhạy với cảm xúc. Trước một cảnh đẹp, ta "nín thở". Lúc lo âu,  ta hổn hển. Lúc sảng khoái ta lâng lâng. Lúc sợ hãi, hồi hộp ta thở nhiều kiểu khác nhau, muôn hình vạn trạng. Nhờ đó mà thấy vô thường. Và cũng nhờ đó mà ta quán sát được cái tâm ta. Thở cũng gắn với các hoạt động cơ bắp, khi mệt, ta "bỡ hơi tai", mệt đứt hơi, mệt hết hơi; khi khỏe, ta thở nhẹ nhàng sảng khoái! Nhờ đó mà ta quán sát được cái thân ta. Rõ ràng chỉ có hơi thở mới là một sợi dây nhạy cảm buộc vào thân và vào tâm, là cái cầu nối giữa thân và tâm. Không chỉ thế, thở còn vừa là ý thức, vừa là vô thức. Như không cần ta. Như ở ngoài ta. Như không có ta. Quan sát thở, ta còn có dịp đào sâu xuống...vô thức. Ta thấy thở gắn với sự sống chết của kiếp người. Còn sống là còn thở, chết là hết thở, là tắt thở, là ngừng thở. Để ý một chút ta sẽ thấy đời người thực ra chỉ là... một hơi thở! Khi chào đời em bé khóc thét lên một tiếng thật to để hít mạnh không khí vào phổi để rồi khi lìa đời, cụ già lại thở hắt ra một cái, trả lại cho đời tất cả những gì mình đã vay mượn! Giữa hai lần thở vào thở ra đó là những đợt thở... lăn tăn như những làn sóng nhỏ, mà nối kết các làn sóng nhỏ lăn tăn đó lại với nhau ta có cuộc rong chơi trong cõi "Ta bà"!

        Mỗi hơi thở vào ra trung bình khoảng 5-10 giây. Mỗi giây, trong cơ thể con người đã có hằng trăm triệu tế bào hồng cầu bị hủy diệt và hằng trăm triệu hồng cầu khác được sản sinh. Quán sát hơi thở do đó ta thấy đựơc sự sinh diệt. Thở có thể làm chuyển biến tâm trạng ta, chuyển hóa cảm xúc ta, cả hành vi ta nữa. Đang sôi giận mà kịp nhớ lại, quán sát sự thở của mình thấy nó phập phều kỳ cục, tức cười, bèn quên giận mà hơi thở được điều  hoà trở lại lúc nào không hay: điểm hưng phấn trên vỏ não đã bị dịch chuyển! Nói khác đi, ta có thể dùng quán sát hơi thở để kiểm sóat cảm xúc và hành vi. Quán sát hơi thở cũng lôi kéo ta trở về hiện tại tức khắc- không còn đắm mình trong dĩ vãng hay tương lai. Mà hiện tại thì không có thời gian!

        Ta biết sự hô hấp thật sự không phải xảy ra ở phổi mà ở trong từng tế bào. Đây cũng có thể gọi là "thâm hô hấp". Ở các sinh vật đơn bào, khí trao đổi trực tiếp qua da, tức qua màng tế bào, một cách đơn giản. Ở con cá đa bào, sống dưới nước, thì khí trao đổi qua mang. Con người do kết hợp đa bào, phức tạp hơn nhiều nên phải thở qua phổi nhưng vẫn trao đổi khí trực tiếp ở từng tế bào nhờ hệ thống mao mạch.  Do vậy mà khi ta có cách nào đó điều chỉnh được lượng khí ra vào, hiệu ứng sẽ tác động đến từng tế bào riêng lẻ. Hô hấp diễn ra trong từng tế bào, nhằm tạo ra năng lượng cho cơ thể hoạt động và tồn tại. Người lao động nặng cần năng lượng gấp ba bốn lần người bình thường, trong đó hoạt động cơ bắp đã chiếm hết gần một nửa.  Riêng não bộ, với trọng lựơng rất nhỏ bé, chỉ khoảng 2% thể trọng mà đã tiêu dùng đến 30% khối lượng oxy đưa vào cơ thể. Giận dữ , lo âu, sợ hãi tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Cho nên những lúc đó ta dễ cảm thấy kiệt sức, rã rời là vậy! Ngủ là một cách giảm tiêu hao năng lượng, nhưng vẫn còn co cơ, vẫn còn chiêm bao. Một đêm ác mộng sẽ thấy bải hoải toàn thân khi thức giấc!Thiền giúp tiết giảm tiêu thụ năng lượng một cách đáng kể, còn hơn cả giấc ngủ. Một khi cơ thể giảm tiêu thụ năng lượng thì các tế bào được nghỉ ngơi, nên toàn thân cảm thấy nhẹ nhàng sảng khoái. Trạng thái nhẹ nhàng sảng khóai đó xảy ra trên từng tế bào của cơ thể. Một cảm giác lâng lâng dễ chịu toàn thân của hành giả, phải chăng đó chính là trạng thái hỷ lạc (thiền duyệt?).

       Phổi ta như một cái máy bơm, "phình xẹp" để đưa khí vào ra là nhờ có áp suất thay đổi. Khi áp suất âm trong phổi và các phế nang thì khí bên ngoài tự động lùa vào, tuôn vào, lấp đầy phổi và các phế nang, cho đến một lúc lượng khí bên trong đầy dần lên thì chuyển sang áp suất dương, phổi sẽ đẩy khí ra. Có một thời điểm áp suất cân bằng nhau, hay nói cách khác, áp suất bằng không, "zéro", thì khí bên trong cơ thể và bên ngoài vũ trụ chan hòa thành một, không phân biệt. Đó chính là quãng lặng.  Quãng lặng đó ở cuối thì thở ra - trước khi thở vào trở lại - thường kéo dài, thong dong, nhẹ nhàng, yên tịnh, vì không hề tốn năng lượng.  Như cánh chim lượn bay, không phải vỗ cánh; như xe ngon trớn ở số không, không tốn nhiên liệu! Đó chính là giai đoạn "prana".  Pra có nghĩa là trướcanathở vào ( cũng có nghĩa là sau thì thở ra). Prana đã được biết đến từ xa xưa. Yoga của Ấn Độ, khí công của Trung quốc, cũng như y học Đông phương nói chung đã nói đến từ cổ đại. Trong yoga có pranayama, kiểm soát hơi thở. Trong thiền định, không còn phải là vấn đề kiểm soát hơi thở nữa mà hơi thở tự kiểm sóat! Đến một lúc nào đó hành giả không cảm nhận mình thở nữa. An tịnh. Hòa tan. Tan biến. Có thể nói đến một phương pháp, một kỹ thuật pranasati ở đây chăng?  Những hành giả giàu kinh nghiệm (thiện xảo) cho biết họ có thể vào định ngay hơi thở đầu tiên có lẽ nhờ rèn tập mà khoảng lặng của họ ngày càng dài ra, mênh mông ra như không còn biên giới, như hòa tan vào hư không, lắng đọng, thanh thoát. Lúc đó họ đã không còn ý niệm về không gian, thời gian, về ta, về người...  Tiến trình hô hấp vẫn diễn ra sâu trong các tế bào (thâm hô hấp), nhưng ở mức thấp nhất, nhẹ nhàng nhất, tiêu thụ năng lượng tối thiểu và do vậy nhu cằu sản xuất năng lượng không còn đòi hỏi cao nữa!     

        Bầu khí quyển chúng ta thở hôm nay so với cách đây 700 triệu năm - tức là khi có những sinh vật đơn bào đầu tiên trên trái đất- thì cũng chẳng có chi khác biệt! Với người anh em đơn bào đó thì ta cũng đang cùng hút chung một bầu khí, cùng bú chung một "núm vú" vũ trụ, cùng với muôn loài khác nữa!   Các sinh vật cùng chia sẻ một cách... bình đẳng, không phân biệt và theo nhu cầu như vậy. Ta hút lấy oxy của không khí, lại tạo ra carbonic; trong khi cây cỏ hút carbonic lại tạo ra oxy. Con thằn lằn, con tắc kè, con ễnh ương... cũng phình ra xẹp vào như ta vậy. Bầu khí quyển vẫn không thay đổi, không thêm bớt. Nhưng chính con người có thể làm hại môi trường sống của mình mà không hay nếu cứ theo đà hủy diệt sự sống của thiên nhiên và muôn loài trên hành tinh xanh này!

        Những cảm giác bức xúc, căng thẳng thường xuyên trong đời sống hằng ngày gây nguy hại âm thầm nguy hiểm hơn ta tưởng. Cơ thể ta lúc nào cũng căng cứng, trong tư thế "chiến đấu" hoặc "bỏ chạy" ( fight or flight response, cũng gọi là stress) nên tiêu hao rất nhiều năng lượng mà không hay! Tình trạng đó kéo dài gây ra đủ thứ bệnh tật mà bác sĩ và các máy móc tân kỳ cũng không tìm ra, đành gắn cho cái tên là "mệt mỏi kinh niên", "mệt mỏi không rõ nguyên nhân", "rối lọan chức năng" này nọ rồi dùng thuốc đè nén cảm xúc đó xuống, do vậy mà ta thấy tình trạng "trầm cảm" trong dân số cứ ngày càng gia tăng. Cảm xúc mà bị đè nén mãi, chìm lắng mãi thế nào cũng có lúc bùng lên! Những vụ nổ súng loạn xạ, nổi cơn điên, tự tử... trở nên dễ hiểu ở nhiều xã hội thừa mứa vật chất mà tâm thần không an! Những hoạt động của "tâm" tiêu hao rất nhiều năng lượng của cơ thể.  Cho nên có được một cái tâm an là điều kiện đầu tiên của hạnh phúc, của sức khỏe. Có được cái tâm an lành thì ta tiết kiệm được năng lượng một cách đáng kể. Nói chung là không mất "hơi sức" đâu cho những chuyện lăng xăng! Tâm  dễ lăng xăng lắm. Đảo điên trăm thứ. Cho nên mới gọi "tâm viên ý mã". Thời đại ngày nay, tâm ý không chỉ là ngựa là khỉ mà còn là... ngồn ngộn những thông tin, kích động từ mọi phía, càng làm cho tâm náo lọan. Xã hội  hiện đại đời sống vật chất phủ phê mà bệnh tâm thần ngày càng phát triển, tình trạng tuyệt vọng, tự tử ngày càng  gia  tăng là vậy!

       Âu Mỹ  mới đi sâu nghiên cứu về thiền chừng khoảng hơn nửa thế kỷ nay ( Vakil, 1950), nhưng chỉ 30 năm gần đây thì thiền mới được coi là một phương pháp trị liệu khoa học trong y học (Craven. 1980; Haarmon & Myers 1999).Cũng đã có những nghiên cứu so sánh các kỹ thuật thiền (Woolfolk, 1975). Những nghiên cứu về sinh lý học giúp thiền ngày càng đựơc hiểu rõ hơn... Hành giả có thể giảm đến 40% nhu cầu oxy và giảm 50% nhịp thở trong lúc thiền. Lúc đầu các nhà khoa học nghĩ rằng thiền cũng giống như giấc ngủ hay nghỉ ngơi tích cực, nhưng qua các nghiên cứu cho thấy thiền khác hẳn, thực sự là một trạng thái tỉnh giác, ở mức tiêu thụ năng lượng thấp nhất tùy trình độ hành giả! Ở những hành giả thực hành thiền dài khỏang 30-40 phút thấy mức lactate trong động mạch giảm (Wilson, 1987), phenylalanine tăng 20% (Jevning, 1977), họat động hệ giao cảm giảm trên bề mặt da và nhịp tim cũng giảm đáng kể (Cuthbert, 1981). Về nội tiết, thấy giảm cortisol (hormone chủ yếu của stress) và ACTH (Bevan, 1980; Kamei, 2000); TSH, GH cũng giảm, trong khi đó arginine vasopressin, đựơc coi là có vai trò trong học tập và trí nhớ lại gia tăng đáng kể (O'Haslloran, 1985). Hiện ngày càng có nhiều nghiên cứu về beta-endorphin, corticotropin, ( Harte, 1995) melatonin (Massion, 1995), DHEA (Glaser, 1992) hứa hẹn giải thích cơ chế tác dụng của thiền trên nhiều mặt về y sinh học....  Hoạt động điện não đồ EEG cho thấy thiền có sự khác biệt với nghỉ và ngủ ( Herbert, 1977). Nhờ những tiến bộ về kỹ thuật thăm dò chức năng não bộ như PET (positron emission tomography) và nhất là fMRI (functional magnetic resonance imaging) đo lượng tưới máu não, cho thấy ở thiền giả một số vùng não được tưới nhiều hơn vùng khác, chứng tỏ thiền không phải là giấc ngủ, trái lại là một trạng thái an tịnh tỉnh giác (state of restful alertness). Kỹ thuật fMRI có khả năng chụp cắt lớp từng giây, nên khá chính xác (Lazer, et al., 2000) cho thấy hoat động tưới máu não gia tăng ở vùng liên quan đến sự chú ý, vùng kiểm soát tự động, vùng  tỉnh thức. Nhưng nói chung, tưới máu não trong thời gian hành thiền rõ ràng là giảm một cách đáng kể, chỉ tập trung vào một số vùng nhất định như đã nêu trên. Điều này cho thấy thiền giả không tiêu hao nhiều năng lượng cho các họat động của vỏ não. Các nghiên cứu về sinh lý học trong thiền vẫn còn đang tiếp diễn. Thế nhưng đã chứng minh được thiền có khả năng làm giảm stress, cao huyết áp, tạo sự sảng khoái, yếu tố của sức khỏe, của chất lượng cuộc sống. :

       Đại học Y khoa  Harvard ước lượng có khoảng 60-90% bệnh nhân đến bác sĩ là do stress. Stress liên quan đến rất nhiều bệnh lý như nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp, tiểu đường, suyễn, đau nhức kinh niên, mất ngủ, dị ứng, nhức đầu, đau thắt lưng, một số bệnh ngoài da, ung thư, tai nạn thương tích,  tự tử, trầm cảm, giảm miễn dịch... Stress gây tăng cholesterol cao hơn thức ăn (Rosenman, 1993). Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, nạn thất nghiệp, người làm việc ở những khu vực dễ bị sa thải thì chết vi bịnh tim mạch, tai biến mạch máu não cao gấp đôi các khu vực khác ( Chandola, 2006). Stress là nguyên nhân của 50% các bệnh nhân mất ngủ, dẫn tới những vấn đề sức khỏe tâm thần. Stress cũng gây 19% vắng mặt nơi làm việc, 40% bỏ việc, 60% tai nạn xảy ra nơi làm việc. Theo một thống kê của cơ quan bảo hiểm y tế, thiền  giúp giảm thời gian nằm viện của bệnh nhân  và giảm số lần đi khám bệnh ( Orme-Johnson, 1987).

Nghiên cứu đối chứng về cơn đau kinh niên, lo âu, trầm cảm, thiền làm giảm 50% các triệu chứng tâm thần nói chung và giảm 70% triệu chứng lo âu (Roth, 1997).

       Hành giả thực hành thiền hơn 5 năm có tuổi già sinh lý trẻ hơn 12 năm so với người cùng tuổi, dựa trên 3 yếu tố là huyết áp, khả năng điều tiết nhìn gần của thị giác và khả năng phân biệt của thính giác.

      Một nghiên cứu  trên học sinh cấp 2 có thực tập thiền, cho thấy kết quả học tập tốt hơn, có khả năng tập trung, có thói quen làm việc, cải thiện hành vi (xung đột, hung hãn), tăng lòng tự tín, khả năng hợp tác và quan hệ với người khác (Harrison, 2004).

      Thiền cũng giúp làm giảm cân, giảm béo phì, nghiện thuốc lá, rượu và các chất ma túy nói chung (Alexander, 1994). Đặc biệt, một nghiên cứu đối chứng ở 44 bệnh viện cho thấy thiền đã giúp làm giảm sai sót chuyên môn y khoa đến 50%, đồng thời cũng làm giảm 70% các vụ khiếu kiện của bệnh nhân đối với bệnh viện ( Jones, 1988). Ở các công nhân kỹ thuật có thực tập thiền trong 8 tuần lễ cho thấy họ làm việc phấn khởi hơn, thích thú hơn, nhiệt tâm hơn, giảm thiểu các bệnh cảm cúm thường gặp trong khi nhóm chứng không có sự thay đổi.  Tóm lại, hiệu quả của thiền đã được chứng minh trong nhiều lãnh vực đời sống.

      Khi nói đến thiền, ta thường nghĩ ngay đến ngồi: ngồi thiền. Rồi nào kiết già, nào bán già, hết sức phức tạp và bí hiểm như chỉ dành riêng cho một giới nào đó. Thiền thực ra không nhất thiết phải ngồi, không nhất thiết phải  "kiết già bán già". Đi đứng nằm ngồi gì cũng thiền được cả. Người Nhật, người Tây Tạng đều có cách "ngồi" thiền riêng của mình, người Tây phương  còn khác hơn nữa, miễn sao có một tư thế thoải mái, dễ chịu, buông xả toàn thân là được.  Thế nhưng cách ngồi tréo chân (kiết già, bán già) lại có lợi thế hơn cả. Tại sao? Tại vì khi ta đứng, ta đi, các bắp cơ phía trước của hai chân phải co lại để nâng đỡ cả thân mình, trong khi các bắp cơ phía sau thì duỗi ra. Lúc ngồi tréo chân ta đã làm cho các bắp cơ đổi chiều. Đây là phương pháp "đối chứng trị liệu". Khi nào đi bộ lâu, mỏi chân, ta ngồi xuống, xếp bằng và hít thở một lúc sẽ thấy hai chân bớt mỏi nhanh hơn. Cơ nào đã duỗi lâu thì được co lại, cơ nào đã co lâu thì được duỗi ra! Thiền hay yoga do vậy khai thác kỹ thuật này để trị liệu rất có hiệu quả sự mỏi mệt, không kể ngồi theo cách này cũng giúp làm giảm sự tiêu thụ oxy! 

       Giữ lưng thẳng đứng cũng là một yêu cầu vô cùng quan trọng trong thiền.  Ta dễ có khuynh hướng chìu theo độ cong tự nhiên của cột sống dưới sức nặng của thân thể do trọng lực- và nhất là tuổi tác- do đó dễ dẫn đến cong vẹo cột sống hoặc đau cột sống cổ, đau thắt lưng. Ở tuổi trung niên nhiều người đã bị những cơn đau dữ dội đến phát khóc. Đó là những cơn đau cấp tính, nếu nghỉ ngơi và uống thuốc đúng cách chừng mươi ngày, nửa tháng sẽ khỏi, nhưng không khỏi hẳn, dễ tái phát do tư thế chưa được điều chỉnh. Nhưng nguồn gốc sâu xa hơn lại là do cách sống căng thẳng, chịu đựng, dồn nén lâu ngày. Cơn đau là tiếng chuông báo động để ta "tỉnh ngộ"! Một người cúi gầm suốt ngày trước máy vi tính hay TV để chơi games online thì sớm muộn cũng bị những hội chứng về  cột sống. Một người quen đi chùa lạy Phật mà với tư thế không đúng thì lâu ngày cũng bị đau cột sống như vậy! Nhất là khi đã có tuổi, cột sống có khuynh hướng cứng lại, mất đàn hồi, các lớp sụn độn giữa hai đốt sống dễ bị bẹp, có khi "xì" ra một bên, chèn ép gây đau, nhiều khi phải phẫu thuật để chữa. Giữ lưng thẳng đứng trong lúc ngồi thiền là điều cần thiết. Kết hợp với tập thể dục bụng, có nghĩa là tập cho thắt lưng được dẻo dai, cũng sẽ làm chậm tiến trình lão hóa.

      Trong thiền, một yếu tố rất quyết định nữa là sự thả lỏng toàn thân,"buông xả" toàn thân, mà có người ví như thả trôi theo dòng nước. Thả lỏng toàn thân là cách làm cho toàn thân như rủ xuống, xẹp xuống, bình bồng, không còn căng cứng nữa! Có thể nói cơ thể ta như chỉ gồm có hai phần: "thân xác" và "thân hơi". Thả lòng là "xì" cho xẹp cái thân hơi đó- mà tiếng Việt ta có một từ rất hay là xả hơi! Khi quá mệt, quá căng thẳng thì nghỉ xả hơi!  Khi đó, không một bộ phận nào của cơ thể còn phải căng nữa, phải gồng nữa, kể cả vỏ não. Tiêu hao năng lượng cho trương lực cơ (tonus musculaire) và hoạt động của vỏ não sẽ giảm thấp nhất có thể được. Y học chứng minh tiêu hao năng lượng trong thiền rất thấp, dưới mức chuyển hóa cơ bản, thấp hơn cả khi ngủ, nhờ vậy mà năng lượng được tích lũy tốt hơn.

        Cơ thể ta có hơn mười ngàn tỷ tế bào. Mỗi tế bào thực chất là một cái túi, một loại "sinh vật" háo ăn, háo làm, háo tiêu thụ oxy- kết hợp với thức ăn qua những phản ứng gọi là oxyt hóa- để tạo ra năng lượng. Nhưng oxyt hóa càng mạnh thì càng tạo thêm các gốc tự do và các chất... bã, làm cho cơ thể mau mệt mỏi, già nua!. Giống như một thanh sắt để ngoài nắng gió một thời gian sẽ bị oxyt hóa thành rỉ sét. Khi cơ thể có cách nào làm giảm tiêu thụ năng lượng không cần thiết thì các tế bào cũng sẽ được nghỉ ngơi.

       Khi cơ thể đã chùng xuống, đã giãn cơ, tức giảm tiêu hao năng lượng một cách đáng kể rồi thì cũng sẽ thấy bớt cần thiết  phải cung cấp các dưỡng chất qua thức ăn như glucid, lipid, protid... vốn là nguồn tạo năng lượng! Ăn ít đi mà vẫn đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng thì cơ thể đỡ vất vả, các tế bào đỡ hùng hục làm việc, tinh thần sẽ sảng khoái. Các nghiên cứu gần đây cho thấy  các sinh vật bị cho nhịn đói vừa phải thì sẽ sống lâu hơn và trẻ hơn.  Do vậy mà các thiền giả không có nhiều nhu cầu  về các chất dinh dưỡng được cung cấp bởi thức ăn! Ta thấy giới, định và tuệ gắn bó chặt chẽ với nhau như một tam giác cân, tác động hai chiều là vậy!

      Danh y Tuệ Tĩnh, thế kỷ XIV ở nước ta đã đúc kết một lời khuyên: "Bế tinh- Dưỡng khí- Tồn thần / Thanh tâm- Quả dục- Thủ chân- Luyện hình" . Thử nhìn lại đời sống hiện nay ta thấy: tinh không bế, khí không dưỡng, thần không tồn, tâm náo lọan... bảo sao các hiện tượng tâm thần, tự tử, béo phì, tiểu đường, huyết áp... kể cả chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai... chẳng ngày một gia tăng?

      Đời sống tiết độ, tri túc, kham nhẫn, chánh niệm, tỉnh giác... phải chăng có thể góp phần giải quyết những vấn đề sức khỏe thời đại và bảo vệ môi trường sống của chúng ta hôm nay?

      Đừng tìm đâu cho mất công. Hãy quay về nương tựa chính mình. Quả đúng như vậy. Bởi nói cho cùng, ai có thể "thở" giùm ai? Ai có thể "thiền" giùm ai?

(Trích từ tập sách Gươm Báu Trao Tay của BS Đỗ Hồng Ngọc, NXB Phương Đông)

     

                                 


CHỮA SỎI THẬN BẰNG ĐÔNG Y - chuẩn

Chung — Viết bởi giactam @ 15:54
 

     

    CHỮA SI THN BNG ĐÔNG Y




Sỏi đường tiết niệu nói chung, sỏi thận nói riêng là một bệnh phổ biến ở nước ta. Các điều kiện thuận lợi cho việc hình thành sỏi tiết niệu là uống ít nước, ứ trệ nước tiểu, nhiễm khuẩn tiết niệu, thay đổi độ pH nước tiểu.

Những viên sỏi nhỏ có thể tự ra ngoài theo nước tiểu. Những viên sỏi to nằm lại trong đài bể thận hoặc trong bể thận rồi phát triển to dần chiếm hết đài bể thận, gây ra những tai biến nghiêm trọng làm hủy hoại thận và các chức năng của cơ quan này. Bệnh có đặc điểm chung là thường có biến chứng nhiễm khuẩn, dẫn đến suy thận mãn tính rất nguy hiểm.

Tùy theo thành phần hóa học, người ta thấy loại sỏi có calci (calci phosphat, calci oxalat, loại hỗn hợp cả oxalat và phosphat) và sỏi không có calci như acid uric, systin... Tùy theo vị trí của sỏi có sỏi thận (đài, bể thận), sỏi niệu quản và sỏi bàng quang. Dù loại sỏi nào thì sự hình thành sỏi thận cũng theo 3 giai đoạn: Tạo nhân, dính các phân tử vào thượng bì đường niệu và lắng đọng, to dần thành sỏi. Các điều kiện thuận lợi cho việc hình thành sỏi tiết niệu là uống ít nước, ứ trệ nước tiểu, calci niệu tăng, citrat niệu thấp, pH niệu mất bình thường và nhiễm khuẩn đường tiết niệu.

Người bị sỏi tiết niệu có một hoặc nhiều triệu chứng sau đây: Đau, tức, nặng vùng thắt lưng, cơn đau quặn thận; đái ra máu, đái buốt, đái rắt, đái đục; có thể sốt và nếu để lâu, có thể có các biểu hiện của ứ nước, ứ mủ ở thận, đái ít, vô niệu hoặc suy thận cấp hay mạn tính. Chẩn đoán xác định sỏi tiết niệu chủ yếu dựa vào siêu âm hoặc chụp Xquang.

Theo Đông y, bệnh sỏi tiết niệu được gọi là thạch lâm, nguyên nhân hoặc do ngày thường ăn nhiều thức ăn cay nóng, hóa sinh thấp nhiệt, uất kết lâu ngày rồi dồn xuống bàng quang làm cho khí hóa trì trệ không thông; hoặc do phòng sự quá độ, thận âm hao tổn, âm hư hỏa động ảnh hưởng đến tác dụng khí hóa của bàng quang, làm cho tạp chất của nước tiểu kết lại mà thành sỏi.

Với Tây y, sỏi thận có thể được chữa bằng nội khoa, cơ bản là giảm đau, chống nhiễm khuẩn, điều chỉnh chế độ ăn uống và vận động hợp lý. Nhưng ngày nay sỏi tiết niệu chủ yếu được chữa bằng ngoại khoa với phương pháp khá hiệu quả là tán sỏi hoặc phẫu thuật lấy sỏi. Tuy nhiên, nhược điểm của các phương pháp này là không chữa được tận gốc nên sỏi lại tái phát.

Chữa sỏi thận bằng Đông y

Trong Đông y, tùy thể bệnh thấp nhiệt hay thận hư mà có các phương thuốc khác nhau.

Thể thấp nhiệt: Bệnh nhân có biểu hiện người trì trệ, nước tiểu vàng hoặc đỏ, đái đục có cặn, có sỏi, đau, nặng, tức vùng thắt lưng.

Thể này dùng phép thanh nhiệt hóa kiên làm chủ đạo. Các bài thuốc thường dùng là:

Bài 1: Kim tiền thảo 30g, quả dành dành 20g, vỏ núc nác 16g, hoa, lá mã đề 20g, xương bồ 8g, mộc thông 12g, tỳ giải 30g, cam thảo đất 16g, ý dĩ nhân 20g, quế chi 4g.

Cách dùng: Nếu tươi, tất cả rửa sạch, thái nhỏ, sao vàng, hạ thổ; nếu đã khô thì để nguyên, cho vào ấm đất với 4 bát nước, đun nhỏ lửa, còn 2 bát, chắt ra, cho nước sắc tiếp, mỗi lần lấy 1,5 bát, trộn chung cả 3 lần, chia uống nhiều lần trong ngày. Uống liên tục 2 - 3 tháng.

Bài 2: Mộc thông 12g, biển súc 12g, sa tiền tử 12g, hoạt thạch 12g, cù mạch 12g, sơn chi tử 12g, đại hoàng 8g, cam thảo 6g.

Cách dùng: Như trên.

Thể thận hư: Ngoài các dấu hiệu nước tiểu vàng hoặc đỏ, đái đục có cặn, có sỏi, còn có biểu hiện người mệt mỏi, đau lưng, mỏi gối, ù tai, trì trệ, ngại vận động, có thể có di tinh, mộng tinh ở nam, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ... Phương thuốc thường dùng là:

Bài thuốc: Tơ hồng (sao vàng) 30g, tỳ giải 30g, thổ phục linh 20g, mã đề 16g, hoài sơn (sao vàng) 30g, liên nhục 20g, thạch vĩ 12g, quy bản 10g.

Cách dùng: Như trên.

Trong nhân dân, người ta còn dùng kim tiền thảo hoặc hạt chuối hột sắc uống hằng ngày thay nước chè, nhiều khi cũng có tác dụng tốt.

Điều quan trọng là để đề phòng tái phát, bệnh nhân cần ống nhiều nước (1,5 - 2 lít/ngày), ăn nhiều rau, hoa quả tươi, tập thể dục đều đặn, tránh dùng các loại thức ăn, thuốc uống gây lắng đọng calci, tránh dùng sulfamid và khi có triệu chứng đau lưng, đái buốt, đái dắt... cần đi khám sớm tại các cơ sở y tế để điều trị kịp thời.

     (  theo Sức khoẻ & và Đời Sống )

     

                                 


BỔ SUNG TOA THUỐC SẠN MẬT

Chung — Viết bởi giactam @ 12:03
 

       
 
BỔ SUNG TOA THUỐC SẠN MẬT




Đóng góp của một thiện hữu ẩn danh vào đọc  giactam.vnweblog.com

Đa tạ .


Trước hết cho N tôi được xin lỗi là không biết xưng hô thế nào cho tiện. Cứ tạm gọi là bác có gì bác GIACTAM lượng thứ. Qua các bài viết của bác về cách chữa trị một số bệnh bằng Đông Y thật quý. Tôi có người thân đã 74 tuổi, mới phát hiện sỏi mật. Đi khám phần nhiều bác sỹ khuyên mổ, Nhưng lại kèm bệnh  tim mạch thành ra còn lưỡng lự chưa quyết. Gần đây tình cờ có người mách cách chữa trị thật đơn giản (mới nghe nói mà chưa kiểm chứng được) đó là: - Ngày uống nước muối MS04 vào 6h, 8h, 13h, 20h. Mỗi lần 150ml. Khi uống chỉ được ăn cháo thịt, không được ăn no. - đến 22h Lấy 150ml dầu Olive pha với nước bưởi đào (Chỉ bưởi đào) nhớ phải uống hết, đi nằm nghỉ ngơi. Uống liên tục như vậy sau 7 - 10 ngày, nghỉ 2-3 ngày sau lại uống đợt hai. Có thể chỉ cần uống 2 đợt là đủ. Lưu ý: Khi uống phải đúng giờ, uống đúng, đủ liều lượng. chỉ ăn cháo thịt. Không ăn no. * Kiêng các đò tanh, nóng, mỡ. Sau khi uống nước bưởi là có thể đi ngoài ngay nhưng không đáng ngại. vì mục đích là cần đi ngoài, nhưng không thường xuyên, cũng không lâu. Không vì thấy đi ngoài phân lỏng mà lo sợ. * Lúc đi ngoài có thể dùng vải xô hứng để tìm sỏi. Trên đây chỉ là thông tin, mà người đã dùng trực tiếp kể lại. Theo như bác này nói là sau hai lần uống thì đi đại tiện ra 13 viên sỏi nhỏ. Hiện bác đó đã đi nội soi không còn sỏi. Tình trạng sức khoẻ tốt. không có triệu chứng gì khác thường. Xin mạo muội nêu ra để bác cùng anh em bè bạn tham khảo .

     

                                 


20 Món Ăn Làm Giảm Huyết Áp

Chung — Viết bởi giactam @ 11:30
 

  

        20 Món Ăn Làm Giảm Huyết Áp

                                     
                                       Tác giả:
Sưu Tầm



                         20 Món Ăn Làm Giảm Huyết Áp

Khi có bệnh tăng huyết áp, điều đầu tiên nên làm là điều chỉnh chế độ ăn (ăn nhạt, đủ chất dinh dưỡng) kết hợp dùng thuốc lợi tiểu. Nếu bệnh không cải thiện thì mới dùng thuốc hạ áp; và ngay cả lúc này, chế độ ăn vẫn giữ vai trò rất quan trọng.

Sau đây là 20 món ăn có tác dụng giảm huyết áp:

Cháo gạo lứt, đậu đỏ và ngô: Gạo lứt 80 g, đậu đỏ 30 g, ngô 30 g. Nấu tất cả thành cháo nhừ. Mỗi ngày ăn 1 lần.

Súp bột mì và rong biển: Bột mì 80 g, rong biển 20 g, hành 10 g, dầu vừng 30 g. Rong biển rửa sạch, xào chung với hành bằng dầu vừng. Sau đó đổ vào ít nước, vặn lửa nhỏ nấu riu riu chừng 25 phút. Bột mì dùng nước nhào đều rồi cán mỏng, cắt thành từng miếng nhỏ, dùng 1 lít nước luộc chín, sau đó vớt ra bỏ vào nồi nước rong biển đã nấu ở trên, nêm vừa mắm muối là được.


Dưa chuột trộn chua ngọt: Dưa chuột 100 g, tỏi 20 g, hành 10 g, giấm 10 ml, dầu vừng 5 g. Dưa chuột rửa sạch, cắt lát, hành rửa sạch, cắt khúc, tỏi bỏ vỏ, giã nát. Trộn đều tất cả với dầu vừng, nêm muối. Ăn mỗi ngày 1 lần.

Canh cá quả, giá và cải canh: Cá lóc 50 g, giá 50 g, cải canh 30 g, tỏi 10 g, hành 5 g, bột canh. Làm sạch cá, xào chung với giá và cải canh, cho hành tỏi vào cho thơm. Sau đó cho vào nồi nước nấu sôi, nêm một chút bột canh là được. Mỗi ngày ăn 1 lần.

Canh thịt lợn, cà tím và dưa chuột: Thịt lợn nạc 50 g, cà tím 50 g, dưa chuột 30 g, tỏi 10 g, hành 5 g, dầu vừng 10 g, bột canh. Dưa chuột rửa sạch, cắt miếng; cà rửa sạch cắt miếng; thịt lợn rửa sạch, cắt miếng; hành cắt đoạn; tỏi bỏ vỏ giã nát. Để nồi nóng đổ dầu vào, phi hành cho thơm, rồi xào với thịt lợn đã ướp tỏi. Sau đó cho nước vào nấu sôi, bỏ các thứ nấu thêm chừng 20 phút là được. Dùng ăn thay thức ăn.

Canh thịt lợn và cần tây: Thịt lợn nạc 100 g, cần tây 100 g, nấm hương 30 g, gừng 5 g, tỏi 10 g, hành 10 g, dầu vừng 10 g, muối. Thịt lợn rửa sạch cắt miếng, cần tây rửa sạch, cắt khúc; nấm hương lựa sơ, bỏ cuống, cắt làm hai, rửa sạch; gừng cắt lát, hành cắt đoạn, tỏi bỏ vỏ, cắt lát. Để nồi nóng, đổ dầu vào, chờ dầu nóng, bỏ gừng, hành vào khử cho thơm, bỏ thịt lợn vào xào sơ. Sau đó cho tất cả vào nấu thành canh với lửa nhỏ chừng 35 phút là được. Mỗi ngày ăn 1 lần.

Mộc nhĩ xào tỏi: Mộc nhĩ 40 g, tỏi 15 g, gừng 5 g, dầu vừng. Mộc nhĩ ngâm nước, bỏ rễ, thái nhỏ; tỏi bỏ vỏ, cắt lát, gừng cắt lát, hành cắt khúc. Để nồi nóng đổ dầu vào, chờ dầu nóng bỏ tỏi, gừng, hành vào phi thơm, cho mộc nhĩ vào xào chín là được. Khi ăn rắc thêm bột tiêu. Mỗi ngày ăn một lần.

Canh sò nấu râu ngô: Thịt sò 30 g, râu ngô 50 g, hành 10 g, gừng 3 g, muối vừa đủ. Thịt sò rửa sạch, cắt miếng; râu ngô rửa sạch, bỏ vào túi vải; gừng cắt lát, hành cắt khúc. Cho tất cả vào nồi nấu với nước hoặc nước gà luộc. Nấu sôi bằng lửa lớn, sau đó vặn lửa nhỏ nấu thêm 30 phút là được. Mỗi ngày ăn 1 lần, ăn cái, uống nước.

Canh rong biển và hạt bo bo: Rong biển 30 g, bo bo 30 g, dầu đậu tương 10 g, gia vị. Rong biển rửa sạch, cắt thành sợi, bo bo rửa sạch. Rong biển xào sơ với dầu ăn, rồi nấu chung với hạt bo bo đến chín nhừ. Nêm gia vị vừa ăn.

Canh cá giếc nấu với vừng đen: Cá giếc 1 con (300 g), vừng đen 15 g, hành tiêu, gừng, gia vị. Cá làm sạch, lọc lấy thịt cho vào nấu với vừng đen; thêm hành tiêu, gừng gia vị.

Canh rong biển với bí đao: Rong biển 30 g, bí đao 100 g, lạc 50 g, thịt lợn nạc 50 g, gia vị vừa đủ. Cho cả 4 thứ trên nấu chung thành canh, nêm vừa ăn. Dùng trong bữa ăn liên tục 7 ngày.

Thịt lợn nạc xào rau cần, giá đỗ: Thịt lợn nạc 50 g, rau cần 150 g, giá 50 g, gừng 3 g, dầu đậu tương, xì dầu 10 g, trứng gà 1 quả, bột đao 20 g. Thịt lợn nạc rửa sạch, cắt miếng; rau cần rửa sạch, cắt khúc; giá rửa sạch, bỏ rễ; gừng cắt lát; hành cắt khúc. Cho thịt nạc, trứng gà, bột đao, muối vào bát, đổ ít nước vào trộn đều. Để nồi nóng đổ dầu vào, chờ dầu nóng bỏ gừng, hành vào phi cho thơm, rồi đổ thịt lợn đã trộn vào xào sơ, sau đó bỏ rau cần, giá vào xào chín là ăn được. Mỗi ngày ăn 2 lần.

Canh cải bắp, đậu đỏ: Cải bắp 100 g, đậu đỏ 15 g, gừng 3 g, hành 10 g, dầu lượng thích hợp, muối vừa ăn. Cải bắp rửa sạch, cắt khúc; đậu đỏ ngâm nước rửa sạch; gừng cắt lát; hành cắt khúc. Để nồi nóng bỏ gừng, hành vào phi cho thơm, đổ vào nửa lít nước, bỏ đậu đỏ vào nấu 40 phút, sau đó bỏ cải bắp vào nấu chín, nêm muối là được. Mỗi ngày ăn 1 lần.

Canh ốc, cần tây: Ốc đồng 50 g, thịt lợn nạc 20 g, cần tây 50 g, đậu đỏ 15 g, nấm hương 15 g, gừng 3 g, hành 10 g, tỏi 10 g, xì dầu 10 g, dầu một lượng thích hợp. Thịt ốc đồng rửa sạch, cắt miếng; thịt lợn cắt miếng; cần tây rửa sạch, cắt khúc; đậu đỏ rửa sạch; nấm hương ngâm nước cho mềm, bỏ cuống; cắt làm đôi. Dùng một nồi nấu đậu đỏ với 1 lít nước cho đậu chín. Lấy nồi khác để nồi nóng đổ dầu vào, chờ dầu nóng bỏ gừng, hành vào phi cho thơm, bỏ ốc, thịt, vào xào sơ. Tiếp theo đổ đậu đã nấu chín cùng với nước vào nồi ốc, thịt. Cho cần tây, nấm hương, xì dầu vào, nấu sôi bằng lửa lớn, sau đó vặn lửa nhỏ hầm nhừ là được. Mỗi ngày ăn 1 lần.

Cần tây xào đậu phụ: Rau cần 100 g, đậu phụ 100 g, thịt lợn nạc 30 g, nấm hương 30 g, gừng 3 g, hành 10 g, xì dầu 10 g, tỏi 10 g, dầu ăn lượng thích hợp. Rau cần rửa sạch, cắt khúc, đậu phụ cắt miếng; thịt lợn nạc cắt miếng; nấm hương ngâm nước cho mềm, bỏ rễ, cắt nhỏ; gừng cắt lát; hành cắt khúc; tỏi cắt lát. Để chảo nóng đổ dầu vào, chờ dầu nóng bỏ gừng, hành vào phi thơm, rồi cho tất cả các thứ vào xào chín là được. Mỗi ngày ăn 1 lần, dùng lúc đói bụng.

Chè vừng đen, khoai mài: Vừng đen 30 g, khoai mài 30 g, đường phèn 3 g. Vừng đen rang thơm, xay thành bột, khoai mài rang khô, tán thành bột, trộn hai thứ bột vào nhau. Nấu với 2 bát nước, dùng lửa lớn nấu sôi, nêm ít đường phèn, khuấy đều, nấu thêm khoảng 5 phút là được. Mỗi ngày ăn 1 lần.

Cà tím xào tỏi: Tỏi 30 g, cà tím 200 g, hành 10 g, muối 5 g, xì dầu lượng thích hợp. Tỏi bỏ vỏ. Cà rửa sạch, cắt miếng, dùng lửa lớn hấp chín; sau đó lấy ra bỏ cà vào trộn đều với tỏi đã khử sơ với dầu mè, nêm ít xì dầu là được.

Thịt lợn xào cần tây: Thịt lợn nạc 50 g, cần tây 100 g, mộc nhĩ 30 g, gừng 5 g, hành 10 g, muối vừa ăn, dầu ăn lượng thích hợp. Thịt lợn nạc rửa sạch, cắt miếng; cần tây rửa sạch, cắt khúc; nấm ngâm nước cho mềm, bỏ cuống, cắt làm đôi; gừng cắt khúc. Để chảo nóng đổ dầu vào chờ sôi bỏ gừng, hành vào khử cho thơm. Bỏ các thức vào thêm một ít nước, dùng lửa nhỏ nấu 25 phút là được. Mỗi ngày ăn 1 lần.

Cháo gạo lứt, rau cần và mộc nhĩ: Gạo lứt 80 g, rau cần 50 g, mộc nhĩ 20 g. Gạo vo sạch; rau cần rửa sạch, cắt khúc; mộc nhĩ ngâm nước, bỏ cuống, xé thành miếng. Lấy gạo nấu thành cháo gần chín, rồi bỏ mộc nhĩ và rau cần vào, vặn lửa nhỏ nấu thêm 30 phút là được. Mỗi ngày ăn 1 lần.

Canh giá, cải bẹ xanh, rong biển: Giá 100 g, cải bẹ xanh 100 g, rong biển 50 g, gừng 5 g, hành 10 g, muối, dầu. Giá bỏ rễ, rửa sạch; cải bẹ xanh rửa sạch; rong biển rửa sạch; gừng cắt lát; hành cắt khúc. Để nồi nóng đổ dầu vào chờ dầu sôi bỏ gừng, hành vào phi thơm. Rồi đổ 1 lít nước, nấu sôi rồi vặn nhỏ lửa trong 45 phút, nêm muối.

     

                                 


Đông y - Phòng, trị chứng hạ đường huyết

Chung — Viết bởi giactam @ 09:54
 

 Đông y - Phòng, trị chứng hạ đường huyết

       

    

"Chứng bệnh hạ đường huyết" (hypoglycemosis) chỉ hiện tượng nồng độ đường trong máu hạ xuống quá thấp, từ đó dẫn tới hàng loạt những chứng trạng bệnh lý - chủ yếu là mất cân bằng thần kinh thực vật (thần kinh giao cảm quá hưng phấn) và rối loạn hoạt động của não.

Đông Y - Phòng, trị chứng hạ đường huyết  

Ở người bình thường, đường huyết có thể thay đổi - tăng hoặc giảm đôi chút: đường huyết qua đêm dao động trong giới hạn từ 4,2 - 6,4mmol/lít; đường huyết sau khi nhịn đói 72 giờ ở nam giới > 2,8mmol/lít, còn ở nữ giới > 2,2mmol/lít. Khi đường huyết xuống thấp hơn 2,5mmol/lít, thì sẽ bị hạ đường huyết.

"Chứng bệnh hạ đường huyết" (hypoglycemosis) chỉ hiện tượng nồng độ đường trong máu hạ xuống quá thấp, từ đó dẫn tới hàng loạt những chứng trạng bệnh lý - chủ yếu là mất cân bằng thần kinh thực vật (thần kinh giao cảm quá hưng phấn) và rối loạn hoạt động của não. Trường hợp bệnh nhẹ, người bệnh chỉ không chịu được đói, chân tay hơi bủn rủn, cảm thấy đầu choáng váng, trống ngực, tim đập nhanh, buồn ngủ, tinh thần khó tập trung... Trường hợp bệnh phát nặng có thể xuất hiện những biểu hiện rối loạn tinh thần, bồn chồn, lo hãi, mất phương hướng trong không gian, nhìn không rõ hoặc nhìn một vật hóa thành hai, vã mồ hôi lạnh, chân tay tê dại hoặc co giật như lên cơn động kinh, thậm chí có thể liệt nửa người hoặc hôn mê sâu.

Với những trường hợp bệnh phát nhẹ, điều trị triệu chứng rất đơn giản, chỉ cần cho bệnh nhân uống nước đường, ăn kẹo bánh ngọt hoặc tiêm glucoza, là mọi triệu chứng sẽ tự nhiên hết dần. Nhưng đối với những trường hợp bệnh phát nặng, cần kịp thời đưa ngay bệnh nhân tới bệnh viện, để cấp cứu bằng các phương tiện của y học hiện đại.

Biện chứng thi trị bằng Đông dược

Các chứng trạng của bệnh hạ đường huyết, thuộc phạm vi các chứng bệnh "hôn quyết" và "hư phong" của đông y học. Theo đông y, nguyên nhân dẫn tới hạ đường huyết, phần lớn do bẩm sinh cơ thể vốn yếu ớt - âm dương khí huyết không đầy đủ; cũng có thể do cơ thể bị suy yếu nặng sau khi mắc bệnh, khiến cho chức năng của tỳ vị bị thương tổn, hoặc do đàm hỏa ứ đọng ở hai kinh can, tỳ gây nên.

Trong điều kiện gia đình, có thể căn cứ vào những chứng trạng biểu hiện cụ thể để lựa chọn cách chữa, cũng như các bài thuốc, món ăn cụ thể, tương ứng với thể (loại hình bệnh) như sau:

Tâm tỳ lưỡng hư

Thể bệnh này hay gặp ở những người bẩm sinh yếu ớt, hoặc ở phụ nữ tuổi trung niên - do tinh thần căng thẳng, làm việc quá sức, không được điều dưỡng đầy đủ khi sinh đẻ, khiến cho khí huyết bị hư tổn và chức năng của hai tạng tâm, tỳ bị rối loạn gây nên.

- Chứng trạng: Bệnh phát tác từ từ, người hay mệt lả, đầu choáng váng, chân tay bủn rủn, vã mồ hôi, mặt trắng nhợt, trống ngực, tim đập dồn loạn nhịp từng cơn, tinh thần khó tập trung, hay quên, bồn chồn, lo hãi vô cớ, nặng hơn thì có những biểu hiện dị thường về mặt tâm thần. Chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi mỏng, mạch tế (nhỏ).

- Phép chữa: Bổ ích tâm tỳ.

- Bài thuốc tiêu biểu: Hoàng kỳ 15g, đẳng sâm 12g, đương quy 9g, toan táo nhân 12g, viễn chí 3g, mạch môn đông 9g, ngũ vị tử 6g, bá tử nhân 9g, long nhãn 15g, cam thảo (nướng) 3g. Tất cả nấu với 800ml nước, sắc còn 300ml; sắc hai lần như vậy, hợp hai nước với nhau, chia ra 3 lần uống trong ngày. Liên tục 10 ngày (một liệu trình), nghỉ 3 ngày lại tiếp tục uống liệu trình khác tới khi bệnh ổn định.

Trường hợp nhẹ có thể dùng món ăn - bài thuốc: long nhãn 15g, hạt sen (để cả tâm) 12g, đại táo 9-10 quả, gạo tẻ 50-60g, nấu cháo ăn trong ngày. Cũng sử dụng theo từng liệu trình.

Can hư phong động

Thể bệnh này hay gặp ở những người lao động trí óc quá nặng nhọc, hoặc sinh hoạt tình dục không tiết chế, khiến cho thận âm bị hư tổn, không hàm dưỡng được tạng can, khiến cho tạng can bị suy yếu, dẫn đến tình trạng "can phong nội động" mà sinh ra bệnh.

- Chứng trạng: Đầu choáng váng, mắt nhìn không rõ, chân tay tê dại hoặc run giật, nặng thì cứng hàm và toàn thân co giật, hai mắt trợn ngược, miệng sùi bọt mép, hôn mê ngã lăn quay. Chất lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch tế huyền (nhỏ, căng).

- Phép chữa: Dưỡng can tức phong.

- Bài thuốc tiêu biểu: Đương quy 9g, sơn thù du 12g, ngũ vị tử 6g, bạch thược 15g, hoàng kỳ 20g, xuyên khung 6g, mộc qua 6g, thục địa 12g, sơn dược 15g, câu kỷ tử 12g, cam thảo 6g, đại táo 6 quả. Sắc uống và sử dụng như trong thể "Tâm tỳ lưỡng hư".

Trường hợp nhẹ, có thể dùng trà thuốc: câu đằng 12g, kim ngân 10g, câu kỷ tử 10g, ngũ vị tử 6g, đại táo 6 quả, sắc uống thay trà trong ngày.

Đàm nhiệt ứ đọng

Thể bệnh này thường gặp ở những người ăn uống thường quá no say. Đồ ăn thức uống không tiêu hóa hết ứ đọng lại, kết hợp với men rượu, biến thành "đàm thấp" và "hỏa độc", làm tổn thương tỳ vị (chức năng tiêu hóa), rối loạn tâm thần mà gây nên bệnh.

- Chứng tạng: Thường sau khi tỉnh dậy, thấy trời đất bỗng nhiên tối sầm, người quay cuồng, vã mồ hôi, chân tay bủn rủn, ngã lăn quay, hôn mê. Ngoài ra, thường ngày còn có những biểu hiện như nhiều mồ hôi, ngủ nhiều, tinh thần kém tỉnh táo, nói sàm. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác (trơn, nhanh).

- Phép chữa: Thanh nhiệt hóa đàm, khai khiếu tỉnh thần.

- Bài thuốc tiêu biểu: xương bồ 9g, uất kim 12g, trúc lịch 20g, sơn chi tử 9g, liên kiều 12g, trúc diệp 9g, mộc thông 6g, đan bì 9g, cam thảo 6g. Nếu có những biểu hiện như phiền táo, miệng khát, đau đầu, thêm: sinh địa, tri mẫu, cát căn mỗi vị 12g; nếu nôn mửa không ngừng, thêm: hoàng liên 3g, bán hạ (tẩm gừng sao) 9g, trúc nhự (tẩm gừng sao) 9g. Sắc uống và sử dụng như trong thể "Tâm tỳ lưỡng hư".

Trường hợp nhẹ, có thể dùng trà thuốc: trúc diệp (lá tre) 20g, cốt khí củ 10g, thổ phục linh 10g, gừng tươi 8g, cam thảo 6g, sắc uống thay trà trong ngày.

Nguyễn Hùng

Ngày 12/04/2006

Nguồn: Báo Sức khoẻ và Đời sống  

     

                                 


VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂN VÀ TÂM

Chung — Viết bởi giactam @ 08:47
 

               VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂN VÀ TÂM

                             (TRÒ CHUYỆN VỚI BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC)

Chân dung tự họa

VHPG: Có một Đỗ Hồng Ngọc là người viết văn, làm thơ, có một Đỗ Hồng Ngọc là người viết về Phật học, có một Đỗ Hồng Ngọc là bác sĩ và cũng là nhà tư vấn tâm lý và sức khỏe cho tuổi mới lớn, doanh nhân, người già... được nhiều người quý mến. Với anh, anh tự nhìn nhận về mình như thế nào?

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc (BS. ĐHN): Tất cả những "con người" đó đều hòa nhập trong tôi, không có gì phân biệt. Khi còn trẻ, đậu xong Tú Tài II, tôi phân vân không biết nên đi vào Văn khoa để... làm một nhà văn hay vào Sư phạm để làm một nhà giáo, hay  học Y khoa để làm bác sĩ. Tôi cảm thấy mình không thể chuyên vào một cái gì hẳn. Chính học giả Nguyễn Hiến Lê là người đã khuyên tôi nên học y khoa. Ông nói học y khoa mà giỏi thì sau này có thể đi giảng dạy được, rồi hành nghề nhiều năm, tiếp xúc nhiều cảnh đời, lại có tâm hồn thì có thể viết lách được. Tôi thi vào y khoa, đồng thời ghi danh học Văn khoa, và sau này còn học cả Xã hội học ở Đại học Vạn Hạnh. Tóm lại, tôi đã thực hiện được ước mơ thưở nhỏ của mình là vừa làm nghề y, vừa đi dạy, vừa viết lách...

VHPG: Anh nghĩ gì khi được nhiều độc giả yêu mến như thế?

BS. ĐHN: Có lẽ do cách viết của mình. Tôi chỉ viết những gì mình thực sự trải nghiệm. Viết là cách chia sẻ kinh nghiệm chứ không phải từ sách vở mà ra.  Khi viết, tôi luôn tưởng tượng như có độc giả đang ở trước mặt mình và đang trò chuyện với mình.. Có lẽ kiểu viết như thế làm cho người đọc cảm nhận được người viết và độc giả có sự gần gủi, chia sẻ, trao đồi một cách chân thành với nhau, không kiểu cách, xa lạ. Khi viết cuốn "Những tật bệnh thông thường trong lứa tuổi học trò" chẳng hạn, cuốn sách đầu tay của tôi được in năm 1972 - Lá Bối phát hành- thì lúc đó tôi mới ra trường được 3 năm. Tôi thấy tuổi học trò là lứa tuổi bơ vơ, đang thiếu thốn một không gian riêng của mình  trong khi ở nước ngoài, người ta có hẳn chuyên khoa dành cho tuổi mới lớn, còn ở Việt Nam mình thì chưa, nên tôi bắt tay vào nghiên cứu và viết. Lúc đó, tôi nghĩ phải viết ngay, chứ không sợ sau này lớn sẽ quên đi! Khi viết, tôi nghĩ mình đang nói chuyện trực tiếp cùng các em. Cuốn sách đó đã được độc giả thời bấy giờ rất hoan nghênh. Khi có kinh nghiệm chăm sóc mấy nhóc nhỏ ở nhà, tôi lại viết cuốn sách dành cho các bà mẹ sanh con đầu lòng. Những khó khăn, những trải nghiệm của chúng tôi đựơc chia sẻ. Hiện nay dù có nhiều sách dịch từ Âu Mỹ, nhưng các bà mẹ vẫn tìm đọc vì thấy có mình trong đó.. Đến lúc ra ngoài tuổi "tri thiên mệnh" tôi mới viết Gió heo may đã về để sẻ chia cùng bạn bè trang lứa! Rồi đến lục tuần, cảm nhận cho hết cái "tuổi già xồng xộc" tôi mới viết cuốn Già ơi ...chào bạn. Những năm gần đây, tôi nghiên cứu lời Phật dạy và áp dụng vào đời sống. Tôi viết Nghĩ từ trái tim và một số bài về kinh Kim Cang gần đây trên Văn hóa phật giáo.. Trước hết là để tự chữa bệnh cho mình và sau đó giúp ích phần nào cho bạn bè , đồng bệnh tương lân. Có lẽ vì thế mà đựơc độc giả yêu mến chăng?

Về mối quan hệ giữa thân và tâm

VHPG: Dưới cái nhìn của một bác sĩ và một người đã thể nghiệm nhiều điều trong cuộc sống, anh có thể cho biết quan niệm của anh về mối quan hệ giữa thân và tâm?

BS. ĐHN: Nguy cơ lớn nhất của ngành Y hiện nay là đi quá sâu vào kỹ thuật mà tách cái thân khỏi cái tâm, thậm chí trong cái thân lại chẻ nhỏ ra thành những mảnh thân nhỏ hơn nữa để đi chuyên sâu. Điều đó có lợi về mặt khoa học nhưng lại làm cho con người không còn toàn vẹn nữa. Thật ra thân và tâm không thể chia chẻ được vì không thể nào có cái thân mà không có cái tâm và ngược lại: hai cái đó vốn là một. Với cái nhìn như vậy, những bệnh thường gặp trong xã hội hiện đại chính là những bệnh từ tâm chuyển qua thân. Bệnh do lối sống, do hành vi cũng chính là nó. Một người thầy thuốc khi chữa bệnh cho bệnh nhân, nếu chỉ thấy cái thân bệnh, mà không thấy cái tâm bệnh, tức là thấy cái "đau" mà không thấy được cái "khổ" của họ thì không thể chữa thành công. Hiện nay ngành Y khoa tâm-thể (médecine psychosomatique) dần phát triển trở lại. Các Trung tâm Y khoa lớn ở các nứơc phát triển đã đưa thiền, yoga vào chữa bệnh rất có hiệu quả. Ngành y, trong hướng phát triển tới cần phải quan tâm nhiều hơn nữa về mảng tâm thay vì chỉ quan tâm tới thân như hiện nay!.

VHPG: Anh có thể kể một vài trường hợp "bệnh do từ tâm bệnh chuyển qua thân bệnh" mà anh nhớ nhất?

BS. ĐHN: Nhiều lắm! Hai thứ "bệnh" này luôn gắn bó mật thiết với nhau. "Bệnh" luôn đi với "họan", cũng như "đau" luôn đi với "khổ"vậy! Khi tiếp xúc với một bệnh nhân, tôi luôn tìm hiểu thêm những nỗi băn khoăn, sợ hãi, lo lắng của họ bên cạnh bệnh chứng. Điều trị như vậy mới có thể toàn diện được. Nhiều khi trên lâm sàng rất rõ là bệnh loét dạ dày, bệnh tim mạch nhưng nguyên nhân sâu xa của nó lại là do những stress chất chồng trong đời sống của họ, những ganh tỵ, ghen tuông, những bất an, bất mãn. Một bà mẹ đang cho con bú chẳng hạn mà khổ vì ghen thì sẽ bị mất sữa đột ngột. Bác sĩ cho thuốc làm tăng tiết sữa vô ích, vì phải chữa ở... ông chồng! Một đứa trẻ bị đái dầm, nguyên nhân sâu xa lại là do sự ganh tị với đứa em mới sanh, cảm thấy cha mẹ bỏ rơi mình nên kêu gọi sự quan tâm của họ bằng cách.... đái dầm như thế! Trường hợp này phải chữa cho cả nhà! Đấy là  những thí dụ cụ thể để thấy sự gắn bó giữa thân và tâm.

VHPG: Trong một bài viết của anh trên Văn Hóa Phật Giáo, anh đã viết: "Sữa mẹ là những tế bào thân xác mẹ vỡ ra mà thành". Nhận định này đến từ cảm xúc của một người viết văn hay là từ cái nhìn của một bác sĩ y khoa?

BS. ĐHN: Nhận định này xuất phát từ sinh học. Trong cơ thể ta, từng giây từng phút có sự thay đổi, một số tế bào mất đi và tái tạo những tế bào khác. Những tế bào tạo ra sữa mẹ là loại tế bào tuyến khi căng đầy thì vỡ ra và trút hết những chất bổ dưỡng tạo thành sữa. Do vậy, sự chia sẻ giữa người mẹ với con thông qua sữa đi xuyên qua những tế bào, và do đó, tình mẹ con trở nên đặc biệt hơn bất kỳ tình cảm nào khác trong các mối quan hệ xã hội.

VHPG: Như vậy, mỗi thay đổi của người mẹ đều có ảnh hưởng đến đứa con?

BS. ĐHN: Điều đó là chắc chắn. Ở Đông Phương chúng ta có một từ rất hay là "thai giáo", tức là giáo dục đứa bé ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Những ông bố bà mẹ ý thức được điều đó thì trong thời gian mang thai không nói nặng lời với nhau, tránh mọi sự xung đột, căng thẳng vì đứa trẻ từ tháng thứ tư trở đi trong bụng mẹ đã nhận biết được điều đó...

VHPG: Ở miền Trung có câu nói: "Con vào dạ, mạ đi tu" cũng mang ý thai giáo đó.

BS. ĐHN: Vâng, khi người mẹ mang thai thì người mẹ phải chuyển hóa chính mình để nuôi dưỡng tâm hồn của đứa con.

Kinh sách và đời sống

VHPG: Gần đây, anh viết nhiều về kinh Phật trong cuốn sách Nghĩ từ trái tim và hàng loạt các bài viết về kinh Kim Cang. Anh đã thâm nhập những bản kinh khó mà nhiều người vẫn ngại như Bát Nhã Tâm Kinh, kinh Kim Cang. Anh có thể cho biết những khó khăn khi  tiếp xúc với các bản kinh thâm sâu đó và viết về chúng?

BS. ĐHN: Tôi may mắn được những thuận duyên dẫn dắt từ nhỏ. Năm 12 tuổi, tôi mồ côi cha về sống với người cô trong một ngôi chùa Tàu nên được nghe cô tụng kinh mỗi ngày. Sau này, tôi có một ông bác xuất gia. Tôi còn học ở Đại học Vạn Hạnh một thời gian, có dịp tiếp xúc với kinh sách và các thầy, được nghe thầy Thích Minh Châu giảng. Sau này, làm việc nhiều quá, tôi cũng bị xao lãng đi. Đến khi bị tai biến mạch máu não phải nằm bệnh viện, tôi có cơ hội nhìn lại quãng đời đã qua của mình. Lúc này, có một người bạn gửi cho tôi bản Bát Nhã Tâm Kinh. Tôi đọc và thấy mình có thể hiểu được, thấm được! Trước đó, tôi cũng đọc các thứ nhưng chủ yếu bằng tri thức mà chưa thấm, chưa hiểu. Phải qua trải nghiệm ranh giới giữa sống chết như thế, tôi mới nhận ra được nhiều thứ hơn. Lần đầu tiên sau khi mổ xong, bước chân được xuống đất đi vài bước, tôi thấy quả là phép lạ! Tôi đã thấy rõ thế nào là hạnh phúc và  nhận thức rõ hơn về cách sống như thế nào để thoát khỏi những vướng bận, những khổ đau. Là một người thầy thuốc, tôi mong tìm một phương cách chữa trị bệnh tâm thân cho chính mình và giúp  đỡ mọi người, nên sau Tâm Kinh, tôi tiếp tục học hỏi thực tập thêm nhiều kinh Phật khác.

Cuốn Nghĩ từ trái tim tôi viết bằng cảm xúc, bằng sự thể nghiệm đời sống chứ không phải bằng suy luận lý trí. Mất 2 năm để nghiền ngẫm và 6 tháng để viết. Cứ mỗi ngày khám bệnh xong, tôi lại bắt đầu viết, viết "như điên", có khi tới 2, 3 giờ sáng. Tôi cứ viết ra tất cả những gì mình nghĩ, những cảm nhận mình có đựơc. Viết xong, tôi thấy mình như đựơc... giải thoát! Tôi thận trọng đưa bản thảo viết tay cho hai người bạn Phật tử đọc giùm rồi còn nhờ ni sư Trí Hải đọc lại. Ni sư nói hôm đó bị cúp điện, phải đốt đèn cày mà đọc "chữ bác sĩ" cho tới sáng, gọi điện ngay góp ý đôi chỗ rồi khuyên tôi nên cho in ra. Tôi nghe lời, "liều mạng"  in thử, ban đầu nhà xuất bản cũng ngại nhưng sau lần in thứ nhất được độc giả hoan nghênh và đến bây giờ thì đã tái bản rất nhiều lần. Ở Mỹ, một Việt kiều in lại để biếu không ở các tiệm cơm chay. Ở Úc, người ta đọc thành 4 buổi trên đài phát thanh và ra CD.  Thường thì khi làm xong, người ta mới tặng tôi một mẩu để làm kỷ niệm và cũng gọi là để...xin phép sau!  Tôi cũng không ngờ cuốn sách này của mình lại được đón nhận nồng nhiệt như vậy. Có một kỷ niệm cảm động: một nữ độc giả viết thư nói bà nội cô rất yêu thích cuốn Nghĩ từ trái tim, mỗi ngày đều bắt các cháu đọc cho bà nghe,  khi bà mất, các cháu đã đốt cuốn sách cho bà...

VHPG: Còn kinh Kim Cang, tại sao anh lại tìm đến?

BS. ĐHN: Bát Nhã Tâm Kinh giải đáp cho tôi được câu hỏi "Tại sao?" nhưng "Bằng cách nào?" thì có lẽ Kim Cang và các kinh hướng dẫn thực hành kỹ năng mới giải đáp được.  Với Bát Nhã Tâm Kinh, ta thấy được cái không trong tự tánh vạn hữu, mối liên hệ giữa sắc và không. Nhưng làm cách nào để đạt được điều đó hẳn phải có một kỹ năng, chắc chắn là như vậy, vì Phật không nói lý thuyết suông. Tu phải đi đôi với hành là vậy! Kiểu tâm truyền tâm như các thiền sư xưa thật là khó quá. Chắc phải có một bí quyết nào đó. Thì ra kỹ năng đã đựơc dạy rất tuyệt vời trong Tứ niệm xứ. Rồi hình như Tứ niệm xứ vẫn còn hơi phức tạp, Phật đã dạy cụ thể hơn nữa là Thân hành niệm, nhưng chưa hết, sau cùng đã giản lược những điều cốt lõi trong An ban thủ ý (Anapanasati). Khi nghiềm ngẫm và thực tập, tôi tự hỏi không biết giữa prajna- trí  và prana- khí, có liên quan gì với nhau không? Chắc phải có. Bởi đã có sự liên hệ giữa thân  và tâm, giữa năng lượng và vật chất thì chắc chắn có sự liên hệ giữa prajna và prana. Có một khoảng lặng sau khi thở ra và trước khi thở vào, đó là prana-  áp suất hô hấp bằng không (0). Hành giả có thể cảm nhận hơi thở của mình lúc đó rất nhẹ, gần như vắng mặt và lúc đó khí trong phổi và khí quyển bên ngoài trở thành một, không phân biệt. Nói cách nào đó, hành giả cảm nhận một trạng thái vô ngã - sinh lý- vào lúc đó, dù chỉ trong chốc lát. Phát hiện ra  điều này, tôi rất mừng vì tìm được cơ sở khoa học cho sự thực hành. Tôi đã viết trong lọat bài "Nói không đựơc" trên VHPG.

VHPG: Vậy anh có thực tập Thiền?

BS. ĐHN: Tôi có thực tập theo cách riêng của mình, phù hợp với mình. Từ góc độ y sinh học,  tôi nghiền ngẫm, thể nghiệm, và lý giải đựơc phần nào ý nghĩa sâu thẩm của thiền nên tôi rất tin tưởng để áp dụng vào điều trị những vấn đề sức khỏe của tâm thân . Nhờ thiền mới có định, nhờ định mới có tuệ, nhưng theo tôi, tuệ cũng dẫn đến thiền và định. Giới định tuệ như một tam giác cân, có nhiều chiều tác động qua lại lẫn nhau, tùy cách tiếp cận và thực hành phù hợp cho mỗi cơ địa. Bản thân kinh "An ban thủ ý" chẳng hạn, nếu thực hành đúng thì đã có thể bao gồm cả Tứ niệm xứ và Thân hành niệm! Nhìn từ góc độ y sinh học, ta hiểu  tại sao ngày nay nhiều  Trung tâm y học lớn trên thế giới đã sử dụng thiền, yoga để chữa tâm bệnh một cách có hiệu quả trong khi chính phân tâm học cũng không giải quyết được rốt ráo vấn đề. Sự tiến bộ của khoa học sinh học dần giải thích đựơc những khám phá tuyệt vời của người xưa. Chẳng hạn ta hiểu sự hô hấp chính là hô hấp tế bào- có thể gọi là "thâm" hô hấp- nên trong thiền định nhu cầu oxy tiêu thụ sẽ giảm đi,  hiện tượng oxyt- hóa do đó cũng giảm, làm chậm tiến trình lão hóa. Những người thưc sự tu hành thấy lâu già và có sức khỏe bền bỉ là nhờ vậy!

VHPG: Xin anh nói một chút về mối liên hệ giữa những bản kinh Phật mà anh đã tiếp xúc với đời sống.

BS. ĐHN: Tôi học "lõm bõm". Tự học, tự nghiền ngẫm, tự thể nghiệm, và thấy có hiệu quả khi ứng dụng vào đời sống hằng ngày, đúng như nhận định của Edward Conze, người dã dịch kinh Kim Cang sang tiếng Anh từ nửa thế kỷ trứơc. Tôi cảm nhận các kinh Phật đều nhất quán, xuyên suốt. Tùy đối tượng mà cách trình bày có thể khác nhau, ngôn ngữ khác nhau nhưng cốt lõi vẫn là một. Các kinh như "bổ sung" cho nhau, giúp ta có cái nhìn thấu đáo hơn dưới nhiều góc độ khác nhau. Càng tìm hiều tôi càng thấy thú vị và hấp dẫn. Khi hiểu đựơc "tức phi...thị danh" của kinh Kim Cang, ứng dụng vào thực tế ta sẽ không còn bị dính mắc nhiều, làm cho cuộc sống trở nên nhẹ nhàng, thanh thản và hạnh phúc hơn. Dĩ nhiên, khi tìm hiểu tôi cũng gặp nhiều chỗ... bí nhưng may mắn là có những người đi trước đã nghiên cứu miễn là chịu khó tìm tòi, học hỏi. Nhiều lúc bí quá tôi cứ... để yên cho tiềm thức làm việc, rồi một hôm như có sự tình cờ nào đó bỗng giúp mình sáng ra. Thiệt ngộ!

VHPG: Nhiều người lo lắng rằng, nghiên cứu kinh điển và áp dụng kinh điển vào cuộc sống, thực tập thiền sẽ khiến con người bỏ bê cuộc sống, thờ ơ với sự nghiệp, đe dọa tới cái hạnh phúc thông thường và niềm vui sống của đời người...?

BS. ĐHN: Trái lại, tôi thấy nghiên cứu, ứng dụng và thực tập thiền, làm cho cuộc sống của mình uyển chuyển, nhẹ nhàng, thanh thản, vui sống hơn và hạnh phúc hơn. Nhờ bớt vướng bận, mình dễ sáng suốt hơn, nhờ tập trung tốt và ít hao tổn năng lượng vô bổ, mình dễ có hiệu năng hơn. Riêng đối với sức khỏe cũng thấy đựơc cải thiện nhiều hơn.

Ý nghĩa cuộc sống

VHPG: Nhìn lại những chặng đường đã qua, anh thấy ý nghĩa cuộc sống với anh như thế nào?

BS. ĐHN: Cuộc sống là một điều kỳ diệu, từ việc ông bà, cha mẹ mình "bỗng dưng" gặp gỡ nhau để rồi tạo nên sự hiện hữu của mình.  Vì thế, phải sống sao cho có hạnh phúc và sao cho có ích. Như vậy, mới tạo được sự an lạc cho bản thân mình và cho người khác, cho cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Trở lại chuyện "hít thở" lúc nảy, tôi nghĩ rằng, bầu khí quyển này là bầu khí quyển chung, không thêm không bớt, các sinh vật từ con thằn lằn, tắc kè... cho tới cây cỏ cũng hô hấp như mình. Do vậy, tất cả các sinh vật đều có "duyên nợ", gắn bó với nhau, chia sẻ với nhau, vì thế mình phải đối xử sao cho phải với tất cả! Mọi người nhận thức được như vậy thì chúng ta sẽ nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ một xã hội an bình, hiểu rằng mình với người không khác biệt, mình với thiên nhiên không khác biệt. Điều này mang lại hạnh phúc cho cuộc sống và cũng chính là ý nghĩa của cuộc sống.

VHPG: Thưa anh, anh có thể nói một chút về ý nghĩa của đời sống gia đình

BS. ĐHN:  Gia đình là cái nôi đầu tiên của một em bé và sẽ còn tiếp nối là cái nôi trong suốt cuộc sống của mỗi con người. Nếu gia đình bền vững, hạnh phúc, thì con cái sẽ có chỗ dựa. Cuộc sống bây giờ nhiều gia đình bị lệch hướng, bị xáo trộn, sẽ có ảnh hưởng đến tâm sinh lý của trẻ thơ và từ đó gây bất ổn cho xã hội. Vì thế, cần thiết phải xây dựng gia đình thành tổ ấm để làm chỗ dựa cho tất cả mọi thành viên.

 VHPG: Cảm ơn anh đã dành cho VHPG buổi trò chuyện thú vị này.

                             Đức Sơn Trà Mi thực hiện

                  (Báo Văn Hóa Phật Giáo, số 39, Vu Lan 2007)

(Trích từ tập sách Gươm Báu Trao Tay của BS Đỗ Hồng Ngọc, NXB Phương Đông)

     

                                 


«Trước   1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16  Sau»

Powered by vnWeblogs