Tìm nhau khắp nẻo luân hồi ,
Gặp nhau thoáng chốc ngỏ lời tri âm .

Giác Tâm

Đạo Phật trong Âm Nhạc Trịnh Công Sơn - 2

Chung — Viết bởi giactam @ 20:08
 

 Đạo Phật trong Âm Nhạc

(Trao đổi với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn)



TTT: Có người phát biểu rằng, những bản nhạc của anh thường mang đậm triết lý nhà Phật? Xin anh vui lòng cho biết ý kiến của mình.
TCS: Tôi là một Phật tử ở trong một gia đình có tôn giáo chính là Phật Giáo. Từ những ngày còn trẻ tôi đã đọc kinh và thuộc kinh Phật. Thuở bé tôi hay đến chùa vì thích sự yên tĩnh. Có những năm tháng nằm bệnh, đêm nào mẹ tôi cũng nhờ một thầy đến nhà tụng kinh cầu an và tôi thường đi vào giấc ngủ êm đềm giữa những câu kinh đó. Có thể vì một tuổi trẻ đã có cơ duyên đi qua những cổng nhà Phật nên trong vô thức, bên cạnh những di sản văn hóa Đông Tây góp nhặt đuợc còn có lời kinh kệ vô tình nằm ở đấy.
TTT: "Một cõi đi về" có thể nói là một bài hát thuyết phục được cả hai "thế giới" trẻ và người lớn tuổi, xin anh cho biết về bối cảnh để bài hát này ra đời?
TCS: Như tôi đã nói ở trên, thuở nhỏ tôi thích đến chùa vì sự tịch lặng thanh khiết. Càng lớn tôi càng ít đi chùa và gần đây hầu như không có nhu cầu đó nữa. Lý do đơn giản là tôi đã may mắn tìm thấy sự yên tĩnh đó ở trong bản thân mình. Vì thế khi viết bài hát "Một cõi đi về" và nhiều bài tương tự như thế, tôi không phải nhờ đến một bối cảnh ngoại giới nào cả. Đó chỉ là một bài thơ nhỏ tôi muốn hát về một cảnh giới mà trong mỗi người ai cũng có. Từ hư vô đến cuộc đời. Và từ cuộc đời trở về lại với hư vô. Đi - về là một lộ trình quen thuộc của cuộc sống mà ai cũng phải trải qua. Đó là một trò chơi vừa vui thú vừa ngậm ngùi mà tạo hóa đã bày ra cho con người và cho cả vạn vật. Một người bạn thân là nhà văn khi nghe bài này đã nói với tôi: nghe bài này mình không còn cảm thấy sợ chết nữa. Đó chỉ là một ý kiến. Điều tôi thành thật rất vui là giới trẻ có vẻ cũng thích bài hát này. Tôi rất muốn nghe những ý kiến của họ.
TTT: Anh có thể cho biết những kinh nghiệm của mình về Phật Giáo? Một tôn giáo như thế nào? Đặc biệt là trong lãnh vực văn học nghệ thuật hay âm nhạc v.v...
TCS: Không hiểu sao, những năm gần đây tôi thường nghĩ về Phật Giáo như một tôn giáo mang nhiều tính hiện sinh nhất. Bắt đầu bằng chữ sát-na, một đơn vị thời gian siêu nhỏ. Phải biết sống hết mình trong mỗi sát-na của thực tại. Từ mỗi cái ăn, cái uống, cái đi đứng, nằm ngồi. Không làm công việc này mà nghĩ đến công việc khác. Với tôi đó cũng là Thiền, là một cách sống đích thực. Tôi vẫn tiếp tục thực tập cách sống như thế hằng ngày.
Tôi đang cố gắng quên Phật Giáo như một tôn giáo. Tôi muốn đó là thứ triết học siêu thoát mà ai cũng cần phải học, ngay cả những người thuộc tôn giáo khác. Mỗi người phải nỗ lực để xây dựng cho bằng được một ngôi chùa tĩnh lặng trong lòng mình và nuôi lớn Phật tính trong chính bản thân thành một tượng đài vững chắc. Nó sẽ giúp cho ta nhìn thế giới khác đi, nhìn cuộc sống khác đi. Với tôi, Phật Giáo là một triết học làm cho ta yêu đời hơn chứ không phải làm cho ta lãng quên cuộc sống.
TTT: Anh có hành Thiền mỗi ngày không? Và thường anh bằng cách nào để vươn đến đỉnh cao trong hứng cảm sáng tác? Đạo Phật có giúp gì việc đó không?
TCS: Tôi có cách hành Thiền riêng. Không có giờ nhất định. Và thậm chí cũng không nghĩ là mình đang làm việc Thiền. Đó chỉ là một cách sống. Và sống Thiền trong mỗi sát-na. Ngồi trước một ly rượu hay trước một nhan sắc cũng vậy. Điều này hơi vi phạm giáo luật Phật Giáo, nhưng tôi là kẻ trần tục nên cứ tự cho phép mình như thế. Vả lại có nhiều con đường dẫn đến với Phật như gõ mõ tụng kinh, thắp hương cầu nguyện, tại sao tôi lại không dùng một phương tiện quen thuộc và gần gũi với mình nhất là ly rượu? Hơn nữa tôi không quan niệm tìm đến với Phật tính trong cõi riêng mình. Đó là quê hương, là chiếc ngai Phật. Tôi ngồi. Phật sẽ tràn ngập tôi và tôi sẽ tràn ngập Phật. Như một cơn lũ dũng mãnh đầy phù sa, mang theo trong nó những gì có thể nuôi dưỡng được cho một cõi "Ngộ" ra đời. "Thấy" và "Biết" và từ đó làm nảy sinh một nụ cười tủm tỉm, một thoáng cười "hàm tiếu" là La Joconde của Léonard de Vinci mới có thể trong muôn một so sánh được.
Cuối năm 1995, tôi có viết được một bài hát mà tôi rất thích và bạn bè ai cũng thích. Đó là bài "Sóng về đâu". Bài này lấy cảm hứng từ câu kệ "Gaté Gaté. Paragaté. Parasamgaté. Bodhi Savaha".
Tôi đang đi tìm một cách biểu hiện mới. Muốn vậy, khi sáng tác, tôi phải lãng quên hiện hữu này để đi vào một thực tại, một thực tại phiêu bồng, ở đó không có những xung đột trần tục của chữ nghĩa và những lý luận ngõ cụt không đâu.
Tôi đang tập hành Thiền về sự lãng quên. Lãng quên những gì không cần thiết cho đời và cho chính bản thân mình.
TTT: Câu hỏi cuối cùng: "Làm sao em biết bia đá không đau, ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau". Anh có thể cho biết sự đồng cảm, cảm thức của mình khi hát lên điều đó?
TCS: Mỗi sự vật, mỗi đồ vật, dù nhỏ dù lớn đều có hai giá trị, Valeur en soi và Valeur puor soi. Tôi nhìn viên sỏi từ ngày này qua tháng nọ và bỗng dưng tôi có cảm giác là nó cũng có một thân phận và một nỗi buồn vui riêng của nó. Tôi là hạt bụi và nó là viên sỏi có khác gì nhau đâu. Nếu tôi có thể buồn vì một đóa hoa tàn thì vì sao tôi không thể cảm cảnh vì một viên sỏi lẻ loi này không có một viên sỏi khác nằm cạnh bên.
Xin cám ơn nhạc sĩ

Thích Tâm Thiện thực hiện


Giận và Thương - TS Nhất Hạnh

Chung — Viết bởi giactam @ 19:43
 

Giận và Thương

Thiền Sư Nhất Hạnh         

                                                                                                                 

        Trong đời sống chúng ta cũng cần cái giận, tại vì cái giận đôi khi cũng có ích lợi, cho nên không thể coi cái giận là một cái có tính cách tiêu cực, tại vì nhờ giận mới hành động được , nếu không giận thì không có phản ứng , không hành động được . Ví dụ một người kia ép mình làm cái gì đó một cách vô lý, nhưng nếu mình không giận thì mình không có khả năng từ chối  , nên mình cần có cái giận mình mới có đủ năng lực và can đảm mà nói không một cách vững chắc.

      Nhưng nếu dùng cái giận làm một nguồn năng lượng để mà hành động là một điều rất là nguy hiểm.Trong tục ngữ Việt Nam có nói : "Khi giận mất khôn" , khi giận thì không có cái sáng suốt, thành ra sức mạnh của cái giận là sức mạnh của sự mù quáng và vì vậy cho nên nó nguy hiểm. Nói như vậy không phải chúng ta phải đày ải cái giận của chúng ta ra khỏi con  người của chúng ta . Chúng ta có cái buồn , cái thương, cái giận, cái vui ... và ở trong tâm lý học của đạo Phật có nói đến 51 cái hiện tượng như vậy , trong đó có hiện tuợng của thương và hiện tượng của giận . Chúng ta thấy rằng cái giận như một cái gì đối chọi cái thương ; nhưng kỳ thực hai cái đó nó rất gần nhau, trong cái giận có thể có cái thương và trong cái thương có thể có cái giận trong đó . Nếu mình tìm cách bỏ đi một cái thì cái kia sẽ bị ảnh hưởng , chúng ta nên giữ cái giận và biến nó thành cái thương . Có một bài hát gốc Hà Tĩnh :       Giận thì giận mà thương thì thương . Sự thật là như vậy chúng ta thương nhiều nên mới giận vì nếu chúng ta không thương thì chẳng cần giận làm gì . Một người dưng nước lã mà nói câu đó chúng ta chẳng giận gì mấy, nhưng người ta thương mà nói câu đó chúng ta sẽ giận bằng trăm nghìn lần . Như vậy cái giận được căn cứ trên cái thương ; sau một cơn giận mà chúng ta có thể hoá giải được và chúng ta trở về với nhau thì cái tình thương đó nó tăng  gấp bội.

      Khi một người không thân với mình mà nói câu đó thì mình giải quyết rất dễ dàng, mình đừng liên lạc với ngưòi đó, đừng chơi với người đó ; nhưng nếu người mình giận lại là người mình thương thì trốn đâu cho thoát, làm sao trốn được chồng mình, làm sao trốn được vợ mình, làm sao trốn được con mình ; do đó chúng ta phải biết làm đủ mọi cái để có thể chuyển hoá cái giận . Thường thường khi người thương mà nói mình một câu làm cho mình đau thì trong tâm của mình nó tượng hình ra một cái gọi là nội kết , có cái cục đau ở trong người.

       Nhiều người thường nghĩ rằng người kia cố ý muốn làm cho mình đau khổ ; người kia có chủ ý tiêu diệt mình và cứ yên trí điều đó là thật. Chúng ta nên xét điều này cho thật kỹ. Khi một người nói một câu gì đó hoặc làm một cái gì đó làm cho chúng ta bị thương tích ở trong lòng thì chúng ta khổ ; tất nhiên trong khi chúng ta khổ thì chúng ta muốn làm một cái gì đó cho đỡ khổ tại vì cái niềm giận nó thiêu đốt chúng ta và chúng ta có cảm tưởng đang sống dưới địa ngục . Cho nên mình nói một câu thật ác để người kia khổ và mình sẽ bớt khổ, đó là một điều hết sức sai lầm nên tránh. Trong cơn giận  như vậy chúng ta chỉ nghĩ đến sự trả thù mà thôi; nhưng mà chúng ta đâu có ngờ rằng khi chúng ta nói câu độc địa đó người kia bị thương rất nặng ; như vậy chúng ta chẳng hơn gì người kia, mà còn tệ hơn người kia nữa.

       Cho nên khi nào mình giận mà muốn cho mình bớt khổ là đừng có nói gì cả, đừng có phản ứng gì cả ; mình nên kềm cái giận của mình. Khi mà mình sống với một người mà mình thương ở trong một mái gia đình thì mình biết tánh của người đó, biết được những điểm yếu, những điểm mạnh của người đó và người đó cũng biết được tánh khí của mình và nếu mình chịu khó tìm hiểu thì mình biết được những điểm yếu và những điểm mạnh của chính bản thân mình; và khi mình hiểu biết được mình như thế nào thì mình sẽ biết được người khác như thế nào. Điều này rất là căn bản, mình biết trong người kia có những hạt giống khổ đau do tổ tiên trao truyền lại và những hạt giống khổ đau do xã hôị gieo trồng vào; và cũng thấy được những hạt giống khổ đau do chính mình gieo cho con người đó ; mình là người thương người đó nhưng chính vì những cái vụng về cho nên mình đã lỡ gieo niềm khổ đau cho người đó và mình là người có trách nhiệm, nếu mình không thương không chăm sóc người đó thì còn ai là người thương và săn sóc người đó. Cho nên thương là làm phận sự của một người làm vườn và người kia là khu vườn của mình. Đôi khi sâu bọ, thời tiết từ bên ngoài nó làmcho khu vườn không được xinh đẹp, mình là người làm vườn, đôi khi vì những cái vụng dại gây ra những cái đổ nát trong vườn; thay vì xịt thuốc để trừ nấm lại xịt thuốc giết cỏ và làm cho cây cối trong vườn đều chết . Mình thương mà không biết cách thương thì gây thương tích cho người mình thương.

       Mình đã làm gì , đã nói gì trong quá khứ để cho người đó hôm nay không nhìn mình, không có nói chuyện được với mình, không có tỏ lộ được tâm tình với mình . Hai người là bạn đồng hành trước đã nói cho nhau nghe tất cả những gì sâu kín ở trong lòng ; bây giờ tại sao người đó không nói cho mình nghe được nữa những cái đau buồn, những cái giận hờn  ... thì mình phải chịu trách nhiệm một phần trong đó. Tại sao cái nhịp cầu thông cảm giữa mình và người đó cắt đứt  và tại sao bây giờ hai người lại sống như hai hải đảo riêng biệt, ai chịu trách nhiệm về điều đó và nếu mình thấy được điều đó thì tức là mình bắt đầu tỉnh ngộ, có giác ngộ là bắt đầu thấy được nguyên do. Cái gì đang xảy ra trong tâm mình, phải nói cho người kia biết cái mình vừa thấy dược rất rõ ràng như là ngắm một trái xoài trong bàn tay chứ không phải nói một cách lý thuyết ; phải nói như thế này : Anh ơi! Em biết rằng trong anh có nhiều khổ đau, có những khổ đau đã được trao truyền lại từ hồi anh còn thơ ấu , có những khổ đau tủi nhục từ xã hội và có những khổ đau trong anh mà em chịu trách nhiệm vì em đã vô tình, em đã dại dột gây ra những nội kết trong anh và em nguyện từ nay về sau sẽ không làm như vậy nữa và giúp anh chuyển hoá những khổ đau trong anh, và phải nói với tất cả tấm lòng của mình, nói với tâm trạng thành thật, với ngôn ngữ rất bình thản mình nói cái gì mình mới thấy : "Em nguyện sẽ không gây cho anh những nội kết và không làm lớn lên những nội kết có sẵn trong anh nhưng mà không chắc em có thể làm được một cách dễ dàng nếu anh không có giúp em, em rất cần anh giúp em để làm công việc đó". Nói như vậy là cả hai đều tu sửa.

      Người chồng cũng nói tương tự như vậy đối với vợ; người chồng biết rằng chính mình trong quá khứ mình cũng có những lần nóng nảy vụng về và mình cũng đã gây nội kết cho vợ mình .

  Và mình là người nguyện hết lòng thương yêu vợ thì phải biết giác ngộ . Đã thật sự thương thì không nên tự ái nữa, phải dẹp tự ái qua một bên để làm cho người kia bớt khổ ;còn nếu cứ giữ tự ái là mình chỉ biết thương mình chứ không thương người khác.

Trong gia đình Việt Nam người chồng đóng vai trò người anh nên người vợ mới gọi chồng thưa anh thì người anh có bổn phận lo cho hạnh phúc của đứa em là vợ của mình và nếu mình không gây hạnh phúc cho đứa em của mình thì mình phải chịu trách nhiệm một phần nào đó và đừng nói đứa em nó ngỗ nghịch khó tánh ; vì lúc ban đầu mình đã phát lời nguyện là sẽ đem hạnh phúc cho người mình thương ; thì sự thất bại này nếu mình không chịu thì ai chịu trách nhiệm ? Ít nhất là chịu trách nhiệm 50% , vì vậy cho nên mình phải thấy được cái lỗi lầm của mình trong đó : Anh biết trong em có nhiều khổ đau, những niềm khổ đau đó có thể có gốc rễ từ xã hội từ những khó khăn; nhưng cũng có những nội kết , những khổ đau do chính anh đã vụng về mà gây ra  , anh muốn em biết rằng không phải anh cố tình làm em khổ ; anh nguyện từ nay về sau sẽ cố gắng hết sức  để  đừng có gây khổ đau cho em và giúp em giải toả những nội kết khổ đau trong em và anh xin em hãy hiểu và giúp anh. Hai vợ chồng mà có thể nói ra những điều như vậy thì hai vợ chồng sẽ trở thành hai bạn đồng hành đi trên đường hạnh phúc.

   Đó là những lúc cái giận nó phát hiện trong tâm, còn những lúc mà cái giận chưa phát hiện trong tâm chúng ta vẫn nói cười với nhau, vẫn ăn cơm với nhau , thì chính những lúc đó chúng ta cần phải ngồi với nhau để nhìn kỹ những hạt giống khổ đau ở trong chúng ta; biết rằng lúc này chúng ta đang vui với nhau và nếu động đến vết thương có thể làm nguy hiểm. Quý vị thường nghĩ như vậy coi là có lý; nhưng có thể là không có lý vì quý vị sợ sự thật. Nhưng chính lúc mà mình có bình thản chính là lúc mình nên nhìn lại ở trong lòng và nói chuyện với nhau dễ dàng hơn. Mỗi người có tính khí riêng và nếu chúng ta biết được cái tính khí của người đó thì chúng ta có thể sống với người đó một cách dễ dàng ;mới cảm thông nỗi khổ và thật sự thương nhau.

  Những điều tôi nói cho quý vị nghe hôm nay là kết quả của sáu mươi năm tu học , nhờ Phật soi sáng chỉ bày để tôi có được cái thấy đó mà chia xẻ đến với quý vị :

    

Mưa rơi nhè nhẹ bên trời

Lắng nghe thổn thức đầy vơi nỗi lòng

Ngủ đi nội kết mông lung

Để cho hơi thở mấy tầng vào ra.

Sớm khuya gieo hạt từ hoà

Mai này lòng đất nở hoa cho người

Ngủ đi nội kết ta ơi

Ngày mai chuyển hoá cho đời thương nhau


NHẤT HẠNH                  


Chùa Bửu Minh - Gia Lai

Chung — Viết bởi giactam @ 19:15
 


CHÙA BỬU MINH - MỘT TRONG NHỮNG

CƠ SỞ PHẬT GIÁO ĐẦU TIÊN TRÊN CAO NGUYÊN PLEIKU

                                                       


TS . Nguyễn Thị Kim Vân


Bửu Minh là tên chữ của chùa Biển Hồ Trà - một ngôi chùa rất gần gũi với người dân Pleiku. Cách trung tâm thành phố Pleiku 15 km về phía bắc, chùa Bửu Minh nằm giữa một vùng đồi bạt ngàn chè. Ba phần tư thế kỷ qua, chùa được hình thành và thăng trầm cùng với chính những đồi chè và bộ phận cư dân người Việt trong khu vực.

Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, các nhà tư sản Pháp đẩy mạnh việc lập đồn điền ở Tây Nguyên. Từ năm 1919 - 1920, công ty P.I.T. (Plantation Indóchinoise des Thés) của Pháp đã xin chính quyền thực dân cho họ khai khẩn vùng đất phía bắc Biển Hồ để trồng chè. Đây cũng là đồn điền đầu tiên của người Pháp trên cao nguyên Pleiku. Trụ sở đầu tiên của Sở Trà - như cách người ta quen gọi lúc đó - nằm trên bờ bắc hồ Ia Nueng (Biển Hồ) - cách hồ nước gần 2km. Những gia đình công nhân ở quanh đó, chủ yếu là người miền Trung được lập thành làng Cỏ May.

Thủa ban đầu khai phá vùng đất mới, lưu dân người Việt đã gặp phải không ít khó khăn, trở ngại lớn nhất là những căn bệnh khó tránh của vùng rừng núi như sốt rét, kiết lỵ... đã giết chết khá nhiều người. Cụ Võ Chuẩn - Tác giả Kon Tum Tỉnh chí cho biết tình hình ở Kon Tum những năm đầu thập niên 30: "Trong các làng lập trước, nhiều chỗ nước độc địa lắm, người có chết mà không sinh ra thêm... như làng Phụng Sơn từ khi lập đến nay dân số 27 cứ 27; Làng Ngô Trang cách 10 năm trước 120 người nay còn 60 người . Làng Phước Cần cách các làng An Nam khác 20km dân càng ngày càng mòn chứ không thêm tên nào" - ở đồn điền chè Biển Hồ, nhiều nhân chứng cho chúng tôi biết tình cảnh của công nhân cũng tương tự như vậy.

Để tự trấn an và có nơi gửi gắm niềm tin, khoảng giữa những năm 30 của thế kỷ XX, công nhân người Việt ở làng Cỏ May xin chủ Pháp cho họ lập chiếc am nhỏ dưới gốc đa cổ thụ ở lô chè số 13 - cách làng Cỏ May khoảng 1 km về phía đông - để cầu cúng. Am này được gọi là Sơn Hải Miếu hay Dinh Bà.  Hiện trong am còn bức hoành phi đại tự bằng gỗ với 3 chữ lớn: "Niệm tại tư ", phần niên đại ghi: Long Thụy - Bính tý (tức là năm  1936). Hai bên ban thờ trong, có 2 bức liễn (đề câu đối) bằng gỗ gõ có cùng niên hiệu với bức hoành phi . Như vậy,  Sơn Hải Miếu phải có từ năm 1936 trở về trước.

Cũng trong khoảng thời gian này, ông Nguyễn Văn Khanh (quê ở Huế, gia đình lúc đó đang ở Kon Tum, bản thân ông được chủ Pháp thuê làm Chef cai quản công nhân ở đồn điền Biển Hồ) là một Phật tư, ông đã đứng ra vận động công nhân ở làng Cỏ May lập chùa để có nơi lễ bái, tu tập. Sau khi chuẩn bị xong, mọi người đồng thuận cử ông Khanh lên Kon Tum, mời sư trụ trì chùa Bác Ái (ngôi chùa đầu tiên ở phía Tây Trường Sơn ) đó là Ngài Tăng Cang Lê Tế ( Hoà thượng Thích Từ Vân ) xuống khai sơn cho ngôi chùa được xây ở đầu làng Cỏ May gọi là chùa Phật Học. Chùa tọa lạc gần bờ bắc đập tràn của công trình thuỷ lợi Biển Hồ hiện nay, có diện tích 70m2, tường xây, mái lợp ngói vảy, có phòng ở và một nhà bếp nhỏ. Trong chùa có tượng Phật A Di Đà ngồi, được làm bằng gỗ mít, cao 60 cm. Ngoài ra còn có tượng Hộ Pháp và Tiêu Diện đứng, đựơc làm bằng xi-măng, phủ sơn, cao 1 m. Trong những năm đầu, chùa Phật Học chưa có thầy trụ trì , việc nhang khói do cụ Nguyễn Văn Tròn (pháp danh Đồng Thiệt) sinh năm 1894 ở tại chùa đảm nhiệm. 

Năm 1947, chùa Phật Học bị sập, một người lái xe cho đồn điền lúc đó tên là Phú đã mang pho tượng  Phật A Di Đà về Sài Gòn. Hai năm sau (1949), những tín đồ Phật giáo ở Sở Trà gồm có: Ông Mười Bút, bà Huỳnh Thị Năm, bà Năm Cao... đã đòi được pho tượng từ tay ông Phú và đưa về thờ tại Dinh Bà. Từ đây, Sơn Hải Miếu bên cạnh chức năng thờ thần còn có thêm chức năng của một ngôi chùa - thờ Phật - và là nơi đi về lễ bái cầu nguyện của Phật tử trong vùng. Những năm Sở Trà còn nằm trong tay chủ Pháp, việc xây chùa mới không được chấp nhận. Năm 1956 công nhân Sở Tra, mới được chủ Pháp đồng ý cho mời thầy Hai Đẩu từ An Khê về nhang khói tại Dinh Bà, cho đến khi chùa mới được xây xong.

Năm 1960, người Pháp bán lại Sở Trà cho công ty kinh doanh của Hoa kiều Trần Văn Thăng, do ông Lạc Di thay mặt làm quản đốc. Thời gian này, những công nhân theo đạo Phật như: Nguyễn Khắc Tự, Hồ Còn, Hà Lâu, Đặng Chút, Lê Chút, Nguyễn Ngọc Lang, Phạm Nọc... đứng đơn đại diện hơn 200 bà con Phật tử trong vùng xin được xây chùa tại khu vực đất Dinh Bà. Đơn này đã được chủ mới chấp thuận.

Năm 1961, một số những Phật tử tại Sở Trà được bà con uỷ nhiệm đã sang chùa Bửu Thắng (là chùa Tỉnh hội Phật giáo Pleiku lúc đó) xin phép. Trụ trì Chùa Bửu Thắng là thầy Thiện Đức đã đồng ý và cử  5 đạo hữu của chùa Tỉnh Hội do cụ Hương Thê (tức ông Phạm Bá Khải ) phụ trách sang giúp công nhân Sở Trà xây chùa. Bản vẽ của chùa mới do một Phật tử làm việc ở Sở Công Chánh Pleiku thực hiện. Để giúp xây chùa, ông Lạc Di cho chở gạch từ một số ngôi nhà bị sập ở đồn điền Đak Đoa (cùng chủ) về, gỗ làm chùa được Phật tử chặt cưa lấy từ rừng núi địa phương rồi đưa vào xưởng của nhà máy để xẻ.

Tháng 11/1961, lễ động thổ được tiến hành, đến tháng 4/1962 công việc xây chùa hoàn thành. Ngôi chùa mới xây không còn mang tên chùa Phật Học mà lấy tên là Bửu Minh theo chữ đầu của chùa Bửu Thắng. Lễ khánh thành chùa Bửu Minh có Hoà thựơng Tâm Đạt trụ trì chùa Thiên Bình từ Bình Định lên chứng minh[1] cùng các Thượng tọa trong Ban Đại diện Phật giáo Pleiku như: Thượng toạ Thiện Nhơn, thầy Hải Thanh ...

Chùa Bửu Minh được xây theo kiểu chữ Đinh (như nguyên mẫu chùa Bửu Thắng) với diện tích 160 m2, trên nóc có lưỡng Long tranh châu, đuôi mái có Giao,Phụng, và thật sự là một ngôi chùa đẹp vào thời điểm đó. Năm 1963 thầy Thích Thiện Tín trụ trì chùa xây thêm một nhà Thờ Tổ bằng gạch tap-lo, mái lợp tôn, diện tích 70m2. Năm 1996, ngôi nhà thờ Tổ này đã sập, Đại đức Thích Giác Tâm mời thợ giỏi từ Quảng Nam - Đà Nẵng lên trùng tu lại bằng bê tông - cốt thép, diện tích 100 m2.

  Từ ấy đến nay, chùa Bửu Minh đã qua nhiều đời trụ trì :

(Thựơng Tọa Thích Từ Hương (sinh năm 1929) hai lần trụ trì chùa này,          lần thứ nhất từ năm 1964-1966 và lần thứ nhì từ 1970-1977.

( Đại đức Thích Thiện Tín từ năm 1967-1968

( Đại đức Thích Tịnh Viên trụ trì khoảng 7-8 tháng trong năm 1969        (Thượng toạ Thích Đồng Trí từ năm 1978-1989 .

( Đại đức Thích Giác Tâm từ năm 1989 đến nay.

Các vị  Sư trụ trì đều có những đóng góp quan trọng cho sự hoàn thiện một cơ sở thờ tự của tín đồ Phật giáo trên cao nguyên Pleiku. Nội điện chùa Bửu Minh hiện thờ 4 pho: tượng Phật Thích Ca ngồi (bằng xi-măng), cao 1m30 ;  tượng Bồ Tát Địa Tạng ngồi (bằng đá )cao 55cm , tượng Tổ Bồ Đề Đạt Ma đứng (bằng đá  ) cao 65 cm ; Tượng Phật A Di Đà ngồi (bằng gỗ mít ) cao 80 cm; tượng Phật Di Lặc ngồi (bằng gỗ mít ) cao 70 cm . 

   Năm 1991 thầy Giác Tâm tôn trí thêm tượng Bồ Tát Quan Thế Âm lộ thiên, cao 3m20; năm 1994 xây thêm dãy nhà Tăng, nhà trù , tường gạch, mái lợp ngói có diện tích 370m2. Năm 1995 kiến tạo vườn Lộc uyển với tượng Phật Thích Ca ngồi lộ thiên, cao 3m70 .

 Trong năm 1966 thượng tọa Thích Từ Hương có thỉnh từ phường đúc Huế về chùa 1 Đại Hồng Chung đường kính 58 cm ; cao 1m15 . Đại Hồng chung tuy nhỏ nhưng âm thanh trầm ấm ngân rất lâu . Ngoài ra chùa còn có một số di vật quý như tượng Phật Chămpa bằng sa thạch, cùng nhiều tượng và chuông, mõ khác.

Được sự cho phép của các cấp chính quyền địa phương, hiện nay chùa đang  đại trùng tu trở lại, bắt đầu từ ngày 30/12/2003 (tức ngày 8/12 năm Quý Mùi). Sau khi hoàn thành những hạng mục của lần đại trùng tu này, chùa Bửu Minh sẽ là một công trình kiến trúc hiện đại, hoành tráng. Diện tích Chánh điện mới  520 m2, cao: 25m. Tuy còn đang thi công xây dựng và kết cấu bằng bê tông, cốt thép , nhưng ta vẫn thấy được mái chùa uốn cong mềm mại , tổng thể có nét giống với truyền thống kiến trúc chùa Nhật Bản, có dáng dấp mái nhà rông cao nguyên .

Chùa Bửu Minh - chùa Biển Hồ Trà - một trong những ngôi chùa được hình thành sớm trên cao nguyên Pleiku hiện nằm giữa một vùng bạt ngàn chè, mặt quay về hướng tây, lưng dựa núi Tiên Sơn, bên trái chùa là dòng sông chảy về Hồ Ia Nueng ( Biển Hồ nước ), bên phải chùa là dãy núi cao hùng vĩ. Xa khu dân cư , trong khung cảnh êm đềm, tịch lặng giữa khuôn viên 5.402m2 

Chùa là một địa chỉ thân thuộc của Phật tử  Pleiku và khách thập phương.

                                                

                                                    Pleiku ngày 01 tháng 08 năm 2005

                                                                          TS . NTKV

[1] Chữ dùng trong nhà Phật.


Mẹ Tôi

Chung — Viết bởi giactam @ 19:08
 

Mẹ Tôi 


Cao Huy Thuần

  
 Mẹ tôi mất đúng ngày mồng một. Tôi không tin ngày tốt ngày xấu, nhưng ngày mồng một thì nhất định phải là ngày tốt. Đó là một trong hai ngày tốt nhất của bất cứ tháng nào, năm nào, thế kỷ nào. Trăng rằm là một, mồng một là hai. Sáng hôm đó, tuy chân đã yếu, mẹ tôi vẫn lần bước đến tủ, lấy áo tràng, thắp hương đèn, lạy Phật. Chiều tối, mẹ tôi thấy mệt, lên giường nằm, năm phút sau, đi mất.

    Ai biết mẹ tôi đều ngạc nhiên về sự minh mẫn lạ kỳ của một bà cụ già chín mươi. Người mẹ tôi héo như chiếc lá khô, nhưng đầu óc cứ sắc bén như cánh con chim én. Khách đến nhà, già hay trẻ, mẹ tôi còn tiếp chuyện dòn tan, quắc thước, hóm hỉnh. Ba ngày trước khi mất, mẹ tôi hãy còn bình luận với một nhà văn về cuốn tiểu thuyết anh mới xuất bản. Hai mươi phút trước khi mất, mẹ tôi còn chuyện trò với bạn của em gái tôi, từ Mỹ về thăm. Không có dấu hiệu gì mẹ tôi sẽ đi ngay sau đó. Tôi cũng mới vừa hẹn với mẹ tôi Tết sẽ về nhà. Thế mà mẹ tôi dường như đã chọn ngày ra đi, không nói trước.

    Dường như mẹ tôi đã hẹn với ngày mồng một. Hai ba ngày trước đó, mẹ tôi bỗng nảy ý ra thăm vườn. Mấy tháng gầy đây, chân mẹ tôi run, ra vườn đã trở thành viễn du, mẹ tôi nhớ vườn như nhớ con. Vườn sau của nhà tôi xanh um chuối, nắng mùa hè lọc qua lá chuối xanh biếc. Tháng tháng mẹ tôi bán lá chuối, số tiền kiếm được chưa đủ mua nửa chai tương. Vườn trước là lá rụng. Sáng sáng, mẹ tôi quét lá khô thổi cơm, đun bếp. Cho đến năm ngoái, khi tôi về thăm, cơm tôi ăn vẫn còn cay mùi khói lá và cay nước mắt hun khói của mẹ tôi. Khách lạ bước vào cổng khi mẹ tôi quét lá cứ lầm tưởng mẹ tôi là người giúp việc trong nhà bởi vì mẹ tôi thường bận áo vá, đội nón cũ. Lúc đi học, tôi không hãnh diện với bạn bè, nhất là với bạn gái, về hình ảnh của mẹ tôi như thế. Nhưng nếu mẹ tôi không như thế thì lấy gì nuôi tôi đi học tận xứ Sài Gòn? Tôi nuốt nước mắt, tự hẹn với lòng lúc nào áo mão xênh xang sẽ mặc hoàng bào cho mẹ. Nhưng mẹ tôi vẫn cứ thế, vẫn áo vá quét sân.

    Mẹ tôi chống gậy ra thăm vườn dường như để nhìn lại giang sơn của mình lần cuối. Tôi thấy mắt mẹ tôi nhìn. Đằng kia, ở cuối vườn sau, trước khi là cả một ao nước ẩm thấp, ếch nhái nhảy tõm khi nghe bước chân người. Vài năm một lần, dành dụm chắt chiu được chút đỉnh, mẹ tôi lại thuê xe đổ đất lấp ao, nâng vườn cao lên, đuổi tiếng ếch nhái ra khỏi hoàng hôn, lúc trăng lên, sao mọc. Khi đất chưa đủ cao, mẹ tôi trồng môn. Đất cao rồi, mẹ tôi trồng chuối, cây mẹ nảy ra cây con, hoa trổ khóm này trái ửng khóm khác. Cùng với chuối, ba cây dừa từ từ vươn lên, vươn mãi, tranh nhau với hàng cau đón nắng mới lên buổi sáng. Giống như những mối tình đầu, mấy cây dừa cũng biết mang đến cho tôi thất vọng khi trổ lứa đầu tiên. Mong chờ là thế, hồi hộp đợi uống ngụm nước đầu tiên trên cao là thế, vậy mà khi dừa hái xuống, hóa ra mẹ tôi đã bán hết mùa trái cho quầy bán nước ngọt ở cuối đường. Năm ngoái tôi về, may mắn quá, mẹ tôi còn để cho tôi một trái, chưa uống đã sợ hết.

    Từ mấy cây dừa, tôi thấy mắt mẹ tôi nhìn qua hàng ổi. Khi ổi không được mùa, mấy trái chín phải nấp thật kỹ sau lá để tránh những cặp mắt tinh quái của bạn bè em gái tôi. Nhưng khi ổi được mùa, các cô đành phải bằng lòng với ổi tươi chấm muối ớt: mẹ tôi đã bán hết mùa ổi cho chị bán hoa quả ở góc chợ. Chỉ có nhãn là không thấy mẹ tôi bán. Của hiếm, mẹ tôi lựa chùm ngon nhất đặt trên bàn thờ, còn lại bao nhiêu chúng tôi phải đạp xe biếu bác này một nhánh, dì kia một lẵng, ân nghĩa sao mà trả hoài không hết.

    Mẹ tôi nhìn vườn như thế, có ai biết mẹ tôi đã có hẹn với ngày mồng một đâu! Có lẽ chỉ có cây ớt cạnh hàng rào, lu nước, chiếc gáo nơi góc bếp, mấy chiếc khăn mặt cũ mèm phơi trên dây thép, chỉ có những vật mọn tưởng như vô tri vô giác kia mới đọc được ý nghĩ của mẹ tôi đang giã từ chúng nó.

    Chiều mồng một, mẹ tôi bảo cháu dìu ra hiên trước, ngồi nhìn vòng ngoài sân. Nếu vườn sau là giang sơn của mẹ tôi thì sân trước là vương thổ của cha tôi. Vườn sau là từng cọng rau, từng cọng rau, mẹ tôi kiếm bữa ăn cho chúng tôi. Vườn trước là mai vàng lan tím, nét văn vẻ của nhà tôi đối với làng nước. Ai muốn kéo tôi vào trận chiến nam nữ giữa những người cùng tu, tôi chỉ cần nhìn khu vườn của nhà tôi mà chạy dài. Trước là cha, sau là mẹ. Không có sau như thế, lấy gì có trước, lấy gì có cả chúng tôi ngày nay? Mà thế nào là sau, thế nào là trước? Gọi là trước vì có cái cửa ngõ. Nhưng mặt trăng tròn vạnh nhìn tôi ngủ từ trên hàng dừa có gọi giang sơn của mẹ tôi là vườn sau đâu? Mẹ tôi bảo: "hễ không tu thì thấy sau thấy trước; tu rồi thì sau trước nào đâu?".

    Chắc mẹ tôi loáng thoáng thấy bóng dáng cha tôi khi ngồi như thế trước hiên nhìn vọng ra sân. Khi lấy cha tôi, mẹ tôi lấy luôn cả gánh nợ chồng chất của gia đình chồng. Lấy gì trả nợ nếu không chắt chiu? Tôi đã học bài trong tiếng chày giã gạo, tôi từng thắt ruột khi con heo trong chuồng vô cớ bỏ ăn. Gánh nặng trên vai khiến mẹ tôi nhiều lúc cứng rắn. Trong thời chiến tranh, một đêm thức giấc bỗng tình cờ nghe cha tôi thầm thì với mẹ tôi: "mấy đứa con ăn không đủ, chắc phải nấu thêm ít gạo nữa". Mẹ tôi cắt ngang, quyết liệt: "ăn thêm khoai!" Bao nhiêu lần trong đời, cha tôi cố can thiệp để bữa ăn chúng tôi phồn vinh thêm chút đỉnh. Chúng tôi thương cha quá và không khỏi thấy mẹ lạnh lùng, nhưng mẹ tôi là ông tướng chỉ huy trong một trận mạc trường kỳ gian khổ. Bữa ăn của chúng tôi nào phải chỉ có chúng tôi! Này con, này cháu, này họ hàng, này gia tộc, gia đình chúng tôi bao giờ cũng là đại, chẳng lúc nào là tiểu. Mẹ tôi là con chim biển trong bài thơ Le Pélican: không tìm được mồi, chim mẹ há họng ra để con rúc mỏ moi tận tim gan. Chưa bao giờ tôi thấy mẹ tôi thở dài, kể cả trong thời chiến tranh, mà chiến tranh thì triền miên. Đang ăn, bỗng nghe cửa ngõ mở, bỗng thấy bà con chạy loạn vào sân. Bỗng thấy người bị thương được cõng qua ngõ. Bỗng thấy người tù bị bắt tháng trước vừa được thả ra. Bỗng thấy trẻ con đau nặng được gánh vào nhà. Bỗng thấy nhà trên nhà dưới không còn đủ chiếu. Giữa bữa ăn, mẹ tôi buông đũa, đong gạo, đun bếp. Lại khói lá cây cay nước mắt, lại nước mắt ướt khói lá cây. Mẹ tôi có thấy lại những cảnh đó trước mắt khi ngồi trước hiên chăng? Hay mẹ tôi chỉ bình thường nhìn lá rụng chưa quét ngoài sân, cây phượng phải vun đất để cho bông cúng ngày mồng một?

    Mẹ tôi suốt đời chẳng bao giờ muốn làm phiền ai, kể cả con cái. Trước mồng một, mẹ tôi đã kín đáo để sẵn áo liệm bên mình, nhưng mẹ tôi không gọi chúng tôi về. Mẹ tôi không muốn làm phiền con ở xa. Mẹ tôi cho chúng tôi rúc rỉa ruột gan mình, rồi mẹ tôi thản nhiên nhắm mắt. Mẹ tôi không muốn làm phiền cả cuộc đời. Như bóng chim lướt qua dòng sông, mẹ tôi không để dấu vết gì trong đó. Mẹ tôi nhắm mắt, người qua lại trước đường không ai biết trong nhà có đại tang. Khi mẹ tôi ngồi trước hiên nhìn ra ngõ, chắc mẹ tôi cũng không muốn làm bận thần giao cách cảm của con ở xa. Mẹ tôi suốt đời chỉ biết cho, chưa bao giờ nhận, dù là nhận bước chân về của con qua ngõ để tiễn mẹ lên đường. Nhưng không bao giờ nữa, tôi ở xa về, bước qua ngõ, còn thấy bóng mẹ từ trong nhà chạy ra đón tôi. Mẹ tôi đón con, nhưng mẹ tôi không cần tôi đưa mẹ.

    Thản nhiên, mẹ tôi ra đi ngày mồng một. Mở cửa mả xong, trong nhà mở tủ xem mẹ để lại bút tích gì. Chi ly, cẩn thận, như đã chi ly, cẩn thận suốt đời, mẹ tôi gói ghém tất cả số tiền chi tiêu còn lại cuối cùng, 1.218.000 đồng, dặn con cái trao lại cho chùa nuôi trẻ mồ côi của Sư cô Minh Tú. Trước mồng một, mẹ tôi đã nghĩ là sẽ không chi tiêu gì nữa. Mẹ tôi tự tay khóa sổ cuộc đời.

    Mẹ tôi mất như thế, tôi không muốn khóc. Tôi đã khóc nhiều lần khi thấy mẹ tôi cực. Mẹ tôi học thức cao, con gái nhà viên ngoại, mà cực từ khi lấy chồng. Nhưng mẹ tôi không hề thấy cực. Mẹ tôi cứ sống như thế cho đến lúc mất và thấy như thế là bình thường, là vui. Mẹ tôi như đốm lửa nơi cây hương, cứ sáng đốm lửa nhỏ bình thường như thế, rồi tan đâu mất.

    Nhưng tôi biết mẹ tôi đang ở đâu. Thỉnh thoảng mẹ tôi về thăm vườn sau, sáng nơi vầng trăng rằm tròn vành, trên đọt dừa cao. Tôi ngủ, nhưng tôi biết mẹ tôi đang nhìn tôi ngủ. Như khi tôi ngủ trong nôi.

    Tôi không thể nghĩ đến cuộc đời của mẹ tôi mà không đồng thời thấy hào quang của người phụ nữ và của người mẹ. Tôi cũng không thể nghĩ đến mẹ tôi mà không liên tưởng đến ngôi sao bắt đẩu của hạnh bố thí trong kinh và trong những chuyện tiền thân. Tôi có may mắn được đọc với mẹ tôi những chuyện tiền thân của đức Phật từ hồi rất nhỏ. Tôi nói: may mắn, bởi vì trẻ thơ, với tâm hồn sáng như gương, dễ dàng trực nhận trọn vẹn ý nghĩa của truyện, trong khi người lớn, với óc luận lý chi ly, không đọc với trái tim mà đọc với cái đầu.

    Dĩ nhiên, đọc chuyện lúc nhỏ, tôi chỉ hiểu tình thương, chỉ thấy tâm từ trong hành động bố thí mà chưa thấy được việc quên mình trong hành động. Vốn là cốt lõi của chuyện tiền thân. Chẳng hạn chuyện của bồ câu. Trời mưa tuyết lạnh giá, bồ câu gặp một người lỡ đường sắp chết cóng, chết đói. Bồ câu động lòng, bay đi tìm củi, tìm lửa, đốt lửa lên, rồi gieo mình vào lửa cứu người kia khỏi chết. Hoặc chuyện con nai chúa. Nai chúa thấy nai tơ có thai khóc lóc với đầu bếp của vua, xin chờ cho đến khi sinh đẻ xong rồi sẽ nạp mạng kẻo tội cái thai trong bụng. Động lòng quá, nai chúa chịu chết thay cho nai tơ để cứu hai sinh mạng.

    Sau này, mỗi lần đọc kinh Từ Bi, tôi lại có dịp chú ý hơn nữa hai chữ "hy sinh":

    Như mẹ hiền thương yên con một

    Dám hy sinh bảo vệ cho con

    Với muôn loài ân cần không khác

    Lòng ái từ như biển như non

    Lòng ái từ như biển như non đối với tất cả chúng sinh khiến Bồ-tát trong tiền thân đã quên mình như mẹ đã hy sinh để bảo vệ đứa con duy nhất. Nói hy sinh, ai cũng hiểu. Nói quên mình, khó mường tượng hơn. Bởi vậy, chuyện tiền thân thường kể ra những cái khó quên nhất: vàng bạc, châu báu, ruộng vườn, xe ngựa, cho đến con mắt, xương thịt, tính mạng, sự sống. Những cái càng khó quên càng dính cứng vào chữ của: của tôi. Cái gì của tôi, cái gì cũng là tôi. Vàng bạc trở thành tôi, ruộng vườn là tôi. Bởi vậy, cho cái chữ "của" đi thì cũng như cho luôn cái chữ "tôi". Và cho cái gì mình chấp chặt nhất là của tôi thì cái tôi cũng mất. Vậy cái gì là của tôi nhất? Là vợ, là con. Cho nên trong vài chuyện tiền thân có kể sự việc cho vợ cho con. Nếu đọc và hiểu sự việc theo nghĩa đen, ôi thôi, còn gì là chuyện thân tiên của tôi nữa! Nhưng nếu đừng để cái đầu vướng mắc với những quan hệ xã hội cách đây hai ngàn năm, chuyện tiền thân sẽ tỏa ra chân lý mà chuyện muốn kể: chuyện vượt qua cái tôi.

    Đó là điều mà có nhiều người lớn không hiểu khi đưa vấn đề thời đại vào chuyện tiền thân, chẳng hạn nhân quyền, nam nữ. Tôi được đọc một lối đọc như vậy trong một cuốn sách về nhân quyền1. Và tôi chợt thấy khoảng cách bao la giữa cách sống của mẹ tôi và cách nhìn của những người bênh vực mẹ tôi. Tôi cũng chợt thấy khoảng cách bao la giữa con chim nhỏ là tôi lúc bé bay trên chữ nghĩa với đôi cánh của tưởng tượng, và con quạ là người lớn bây giờ đậu trên từng chữ với đôi chân bám chặt mồi. Đứa bé và người lớn cùng đọc một chuyện. Nhưng đứa bé đọc với hình ảnh của mẹ nó nên nó đi vào thế giới thần tiên có hào quang và có ngôi sao bắc đẩu.

    Người lớn là một bà giáo sư Thái Lan. Bà dựa trên chuyện tiền thân phổ thông nhất, được yêu chuộng, sùng bái nhất trong quần chúng, chuyện thái tử Vessantara, để quy một phần trách nhiệm cho Phật giáo trong thảm cảnh buôn bán mãi dâm trong nước bà. Tại sao vậy? Tại vì Phật giáo đã dạy chữ nghiệp, khiến phụ nữ không biết tranh đấu để cải thiện quyền lợi của mình mà cứ tin rằng nghiệp của mình là như thế, nghiệp của gia đình mình là như thế, nghiệp phải làm đàn bà, nghiệp phải làm điếm.

    Tôi sợ đi xa câu chuyện tiền thân nên tạm gác qua một bên chữ nghiệp được hiểu nông cạn quá. Chỉ hỏi như thế này: nhìn các tôn giáo khác, các văn minh khác, kể cả văn minh Khổng giáo gần ta, người đàn bà bị hạ thấp như thế nào, phải cam chịu như thế nào, nhưng tại sao chẳng có kinh đô nào khai thác mãi dâm đến mức ấy như ở Băng Cốc? Hổ thẹn quy về ai?

    Lại hỏi thêm câu này nữa. Hai ngàn năm trước đây, và trước đó, và sau đó, người phụ nữ, ngoài những bất công phải gánh chịu về xã hội, còn phải gánh chịu thêm nữa một bất công về thân xác trong chuyện mang nặng đẻ đau. Trong Trung Bộ Kinh, có đoạn Phật bảo một tỳ kheo đến nói chuyện nhẹ nhàng với một phụ nữ đang quằn quại trong sinh nở để người đó vượt qua được đau đớn. Mỗi lần sinh đẻ là mỗi lần kề cận cái chết, ít ra là cách đây hai ngàn năm. Khổ đau đó có làm một số phụ nữ thầm mơ ước thoát ra khỏi những hệ lụy về thân xác đàn bà không? Tôi không biết, nhưng nếu có, thì giải pháp chắc chắn không phải là tranh đấu tập thể và kết quả không thâu tóm được ngay ở đời này. Làm gì để cải thiện bất công ở đời này thì phải làm, nhưng tranh đấu tập thể và làm tốt bản thân có trái cựa gì với nhau đâu? Ây là dùng luận lý vặt để trả lời luận lý vặt.

    Chuyện tiền thân là chuyện kể cho quảng đại quần chúng để làm tốt bản thân. Không ở đâu đạo đức của Phật giáo dễ tìm, dễ thấm, dễ ngộ như trong các chuyện tiền thân. Mà đã kể chuyện đạo đức cho người đời, cho quảng đại quần chúng, thì làm sao vẽ ra được những nhân vật đạo đức nếu không vẽ họ qua những hình ảnh đạo đức mà quần chúng đang ngưỡng mộ? Bởi vậy, chuyện tiền thân càng được lưu truyền, càng đi vào văn chương, lại càng được tô điểm thêm chi tiết, ngôn ngữ hợp với đạo đức của xã hội đương thời. Trên đôi cánh của đạo đức đó, chân lý và đạo đức trong lời dạy của đức Phật bay vào lòng quần chúng.

    Tôi không đọc được chuyện tiền thân kể trong văn học Thái mà bà giáo sư đã nêu ra để hạch tội Phật giáo về chữ nghiệp. Nhưng tôi nghĩ đã là chuyện tiền thân thì cốt lõi của chuyện ở đâu cũng giống nhau, cho nên tôi mở Lục Độ Tập Kinh ra và tìm thấy một chuyện tương đương với chuyện thái tử Vessentara của Thái. Đó là chuyện thái tử Tu Đại Noa, do Khương Tăng Hội dịch và kể với ngôn ngữ và tiêu chuẩn đạo đức của thời ông, nghĩa là khoảng 200-2802.

    Thái tử Tu Đại Noa phát tâm thực hiện hạnh bố thí. Có gì trong tay, thái tử cho hết, vàng bạc, châu báu, ngựa xe, ruộng vườn, ai xin là cho. Trong nước có con voi trắng, quý lắm, sức địch trăm voi, các vua chung quanh sợ, bày mưu sai người đến xin. Thái tử nói: "tốt lắm", rồi lấy nước trong bình vàng cung kính rửa tay cho người xin, tận tay trao voi cho người ấy. Quần thần phản đối việc cho, tâu vua phạt tội, đày thái tử đi nơi xa. Thái tử vui vẻ tuân lệnh cha, chỉ xin ở lại thêm bảy ngày nữa để bố thí cho hết của cải còn lại.

    Vợ thái tử là Man Đề, con gái dòng vua, nhan sắc không ai bì kịp. Trước khi lên đường, thái tử tỏ ý ngần ngại, không biết công chúa ngọc ngà có kham nổi đời sống khổ cực nơi rừng núi thâm u. Người vợ đáp: "Áo quần mềm mại, chăn báu mùng màn, thức ăn ngon ngọt nào có ích gì khi mà sống phải cùng thái tử chia ly. Đại vương lúc đi có cờ làm hiệu, lửa lấy khói làm hiệu, vợ lấy chồng làm hiệu. Thiếp nay nương nhờ thái tử như đứa trẻ nương tựa mẹ cha. Thái tử ở trong nước bố thí bốn phương, thiếp cũng cùng ý nguyện. Nay chàng phải trải qua bao nhiêu nguy hiểm mà thiếp đành ở lại giữ sự vinh hoa, há là nhân đạo ư? Thảng hoặc có người đến xin mà thiếp không thấy chàng thì lòng thiếp thương nhớ ắt là chết".

    Thái tử nói: "Nếu người nước xa đến xin vợ con, ta không trái ý, còn nàng vì tình quyến luyến, thảng hoặc làm trái đạo bố thí thì sẽ mất hết ơn lớn thấm nhuần, phá hoại trách nhiệm nặng nề của ta". Người vợ xác quyết: "Thái tử bố thí ở đời ít có, hãy thành đạt lời thề lớn, cẩn thận đừng mệt mỏi. Trăm nghìn vạn đời, không có người nào như chàng, thiếp không dám trái ý".

    Thế là thái tử cùng vợ con lên đường. Đi mỏi, vừa ngồi nghỉ chân, có người đến xin. Thái tử nói: "tốt lắm", cho áo đang mặc. Cho luôn trang sức của vợ mang theo. Lại đi, lại có người đến xin con ngựa. "Tốt lắm", thái tử cho ngựa, tự mình kéo xe đi tiếp. Đi nữa, có người đến xin chiếc xe. "Tốt lắm", thái tử cho xe, tự mình ẵm con trai, vợ ẵm con gái, tìm đường vào núi, lòng vẫn vui vẻ như bao giờ cũng vui như thế.

    Xuất hiện một phụ nữ khác, vợ của một ông già xấu xí. Trong chuyện Thái, người phụ nữ trẻ, có nhan sắc này lấy ông lão ăn mày vì cha mẹ nàng mắc nợ lão ấy, gả con để gỡ nợ. Chi tiết này không thấy nói trong Khương Tăng Hội. Cô vợ làm việc cực nhọc, thường phải ra giếng lấy nước. Một hôm, nàng gặp một người trẻ tuổi chận đường trêu chọc: "Lão ấy mặt mày đen xấu, mũi tai vễnh vẹo, thân thể rệu rẹo, mặt xô môi dày, ngôn ngữ ngọng nghịu, hai mắt lại xanh, dạng hình như quỷ, ai chẳng chán ghét. Vậy mà nàng làm vợ nó, không thấy xấu hổ chán chường sao?".

    Về nhà, người vợ thuật lại mọi sự, không chịu đi lấy nước nữa, đòi chồng phải kiếm đầy tớ. Chồng bảo: nhà nghèo mạt, kiếm đâu? Vợ mách: "Tôi nghe nói thái tử Tu Đại Noa ai xin gì cho nấy, vậy hãy đến chỗ thái tử ở xin hai đứa con". Ông lão đi, và gặp. Thái tử nói: "tốt lắm", rồi đi lấy nước cung kính rửa tay người xin, trao con vào tận tay. Trời Đế Thích thấy vậy, cảm động quá, nhưng muốn thử thêm lòng dạ của thái tử, bèn hóa ra thành người thường đến xin vợ. "Tốt lắm", thái tử bưng nước rửa tay, trao vợ. Đế Thích cảm kích, hiện nguyên hình, hỏi thái tử muốn xin gì sẽ cho. Tu Đại Noa nói: "Nguyên được giàu to, thường ưa bố thí không tham, hơn cả bây giờ, khiến vua cha ta và thần dân trong nước nghĩ tới gặp mặt".

    Đoạn kết có hậu như tất cả các chuyện đời xưa. Lão già dẫn hai đứa trẻ về, bị vợ quở: "Hai đứa này tay chân mịn màng quá, không làm việc nặng được. Mau đem ra chợ bán, rồi mua đứa khác thay vào". Lão già đem trẻ ra chợ, nhưng Đế Thích đánh lạc đường, dẫn một mạch đến thẳng nước của vua cha thái tử. Vua cha hối hận, phái sứ giả đến đón thái tử về.

    Đặt câu chuyện được kể trên hai ngàn năm này vào bối cảnh nhân quyền nóng hổi hiện nay, thiếu gì lý lẽ để buộc tội thái tử. Vợ con đều là người cả, đều có quyền của con người, đâu phải tài vật riêng của thái tử mà ngài cho như cho giẻ rách? Ngài là chồng, là cha, sao dửng dưng được trước than khóc của vợ, của con? Khương Tăng Hội kể thế này: công chúa Man Đề đang hái trái trong rừng bỗng thấy xốn xang ruột gan, nghe sét đánh ầm trên trời mà mây vẫn xanh, mất phải giật, mắt trái ngứa, hai vú chảy sửa liên hồi. Đoán là con gặp nạn, bà chạy về nhà thì quả là hai con đã bị cho mất. Bà vật vả, than khóc ai oán: "Đúng như giấc mộng! Trong một đêm mơ thấy lão già cắt hai vú của thiếp cầm mà chạy, chính là chuyện hôm nay đây".

    Nhưng bà Man Đề đức hạnh vô song. Bà tự trấn tỉnh, vượt qua phiền muộn, khen ngợi hành động của thái tử. Chuyện Thái viết: "Tim của công chúa bây giờ tràn ngập niềm vui thanh thoát. Khi chư thần thấy như vậy, các vị đều đồng thanh chắp tay ca ngợi công đức bố thí. Khi đó, thần Indra, chúa tể của các vị thần, rải xuống đất một nắm hoa vàng lá ngọc để ca ngợi công chúa đã thuận theo nguyện ước bố thí của chồng". Bà giáo sư hỏi, và chính vì câu hỏi này mà tôi liên tưởng đến mẹ tôi, đến ngôi sao bắc đẩu chói sáng trên cao xa, đến vầng hào quang tỏa ra nơi đôi bàn tay đang ru hai tao nôi trong đó tôi nằm ngủ: tạo sao chỉ có thái tử Vessantara là hiện thân của Bồ-tát còn công chúa Madsi thì không được tán thán như Bồ-tát mà chỉ được tán thán như một người phụ nữ biết hiến trọn đời mình cho nguyện ước của chồng? Phải chăng vì người phụ nữ không có quyền riêng của con người mà chỉ là vật sở hữu của chồng, của đàn ông? Cô vợ của lão già ăn mày cũng thế. Cô bị bán như nô tỳ và cô nghĩ rằng đó là nghiệp của cô, nghiệp của cha mẹ cô. Cô lấy lão ăn mày cũng như bao nhiêu thiếu nữ thôn quê Thái bị cha mẹ bán làm điếm. Họ không chống lại số phận của họ mà chỉ tin một cách thụ động, ngây thơ vào nghiệp rồi cam lòng chịu đựng.

    Câu hỏi của người chỉ trích giúp tôi đi thẳng vào cốt lõi của chữ bố thí trong đạo Phật: bố thí là cho mà không thấy người cho, không thấy người nhận, không thấy vật cho. Từ ý nghĩa cao sâu đó, công chúa Man Đề chưa phải là Bồ-tát bởi vì bà còn đau xót khi phải cho con: bà con thấy vật cho. Bà con thiếu một bậc nữa để thành Bồ-tát, không phải vì bà là phụ nữ, mà vì bà còn thấy người, còn thấy ta, còn thấy hai, còn thấy cái chữ "của".

    Cho nên bố thí là hạnh tối thượng trong đạo Phật không phải chỉ vì tâm từ là tâm của Bồ-tát mà hơn thế nữa, còn vì bố thí là hành động của vô ngã, và vô ngã là huyết mạch của Phật giáo.

    Tại sao như vậy

    Này Tu Bồ Đề

    Vì nếu Bồ-tát

    Mà vẫn còn có

    Ý tưởng ngã, nhân

    Chúng sinh, thọ giả

    Thì Bồ-tát ấy

    Không phải Bồ - tát

    Tôi có thể dùng luận lý và thông minh để hiểu bố thí là vô ngã, nhưng có một hình ảnh đưa tôi đi thẳng vào ý nghĩa đó của kinh mà không cần lý luận gì cả: hình ảnh đó là mẹ tôi. Mẹ tôi cho tôi voi ngựa, châu báu, bạc vàng, ruộng vườn; mẹ tôi cho tôi xương thịt, tính mạng; mẹ tôi cho tôi sự sống, và cho không thấy người, không thấy vật, không thấy ta, không thấy quyền lợi, không thấy nam nữ, không thấy khen, không thấy chê, không thấy còn, không thấy mất, không thấy có, không thấy không, không thấy của con, không thấy của mẹ. Khi tôi nằm trong bụng mẹ, tôi là một với mẹ. Đẻ ra, mẹ chưa bao giờ coi con là hai. Suốt đời, mẹ tôi sống cực như thái tử Tu Đại Noa trong núi, vì mẹ tôi đã cho tôi tất cả, không giữ một cái gì cho riêng mình. Và cứ thế mẹ tôi vui. Ai cũng có một người như vậy trong đời để biết thế nào là cho. Ai cũng có một người như vậy trong đời để biết thế nào là cho không thấy. Như cây hương, mẹ tôi sáng đốm lửa. Ai cũng thấy đốm lửa sáng. Mấy ai thấy cây hương tự cho mình.

    Đó là mẹ của tôi. Mẹ mà Phật đã đem ví với tâm của Bồ-tát đối với tất cả chúng sinh. Đó cũng là mẹ của tất cả ai có mẹ.

                                                                2000

    Chú thích:

    (1) Suwanna Satha - Anand, Looking to Buddhism to turn back prostitution in Thailand, trong: Joanne R. Bauer and Daniel A. Bell (ed.), The East asian challenge for human rights, cambridge university press, 1999.

    (2) Lê Mạnh Thát, Khương Tăng Hội Toàn tập, tập I, Tu Thư Đại học Vạn Hạnh, 1975.


Nuôi dưỡng tinh yêu - 2

Chung — Viết bởi giactam @ 18:38
 

Nuôi Dưỡng Tình Yêu



Thích Nhất Hạnh


Giấc mơ Việt Nam là giấc mơ trong ấy người trẻ khi yêu nhau có cơ hội tìm hiểu nhau và khi tìm hiểu nhau họ tìm hiểu được chính mình. Tình yêu là một cơ hội để ta tự hiểu được mình, để thấy được cội nguồn của mình, những khó khăn, những khổ đau, những hạnh phúc và những ước vọng sâu xa nhất của tổ tiên mình và của chính mình. Nhu yếu hiểu được đi đôi với nhu yếu thương, bởi vì nếu không hiểu nhau ta sẽ không thương yêu nhau được một cách đích thực và lâu dài. Vì vậy khi yêu nhau ta không đưa chuyện tình dục lên hàng đầu. Ta tôn kính nhau; ta thấy được rằng trong truyền thống văn hóa ta, thân với tâm là nhất như, nếu ta không tôn kính thân thể của người yêu thì ta cũng không tôn kính được tâm hồn của người ấy. Yêu nhau cũng là giữ gìn cho nhau; chừng nào sự kính trọng còn thì tình yêu vẫn còn, chừng nào sự rẻ rúng xem thường bắt đầu xảy ra thì ta biết là tình yêu đã bị đe dọa (Truyện Kiều: Trong khi chắp cánh liền cành, mà lòng rẻ rúng đã dành một bên).

Muốn cho tình yêu là một tình yêu lớn và muốn cho tình yêu bền vững, người con gái phải biết tự giữ gìn và người con trai cũng phải biết bảo hộ cho người con gái. Sự thực tập này làm cho tình yêu càng ngày càng đẹp, càng cao quý. Bảo hộ là bảo hộ cho chính hạnh phúc lâu dài của mình. Mà bản chất của sự bảo hộ là sự tương kính. Bất cứ một lời nói hay một cử chỉ nào của mình cũng phải biểu lộ sự tương kính ấy. Những gì sâu kín nhất trong tâm hồn ta, kể cả những nỗi khổ niềm đau, chúng ta thường không chia sẻ với bất cứ ai. Chỉ khi gặp người tri kỷ có khả năng hiểu được ta, ta mới mở lòng ta cho người ấy. Với thân thể của ta cũng vậy. Có những vùng thiêng liêng và riêng tư của cơ thể, ta không muốn ai chạm tới, chạm tới tức là xúc phạm đến cả con người ta. Ta chỉ có thể chia sẻ, phó thác hình hài ta cho người ta tin cậy nhất trên đời, người mà ta nguyện sống với trọn đời trọn kiếp. Trong hoàng cung, có một nơi cư trú của vua mà không ai được lãng vãng tới nếu không có phép, kể cả vị đại thần lớn nhất trong triều. Nơi ấy gọi là tử cấm thành. Ai lọt vào mà không có phép thì có thể bị chém đầu. Cơ thể ta cũng linh thiêng như thế và phải được bảo hộ nghiêm mật như thế. Càng bảo hộ nghiêm mật thì phẩm giá ta càng cao và tình yêu càng lớn. Sở dĩ cuộc tình của Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh đã thất bại, là tại vì hai người đã không biết bảo hộ cho nhau, dù họ là một cặp trai tài gái sắc ít ai sánh kịp (Truyện Kiều: Mây mưa đánh đổ đá vàng, quá chiều nên đã chán chường yến anh). Tại các thành phố lớn của nước ta trong mấy năm nay, con số của các nàng Thôi Oanh Oanh cứ tăng lên vùn vụt. Số lượng những bạn trẻ phá thai mỗi năm làm chúng ta e ngại. Đó là tại vì chúng ta đã không trao truyền và học hỏi được truyền thống 'thân tâm nhất như' ấy. 

Không có gì đẹp bằng tình yêu chân thật, trong tình yêu chân thật ta không làm cho nhau lo lắng, buồn khổ, giận hờn, trái lại ta có khả năng hiến tặng niềm vui và làm vơi nỗi khổ của người ta yêu. Nhờ hiểu cho nên ta biết thương, và ta không tước đoạt niềm vui, sở thích và cảm hứng của người ta yêu, ta không ép buộc người ta yêu phải suy nghĩ như ta, hành xử như ta, ưa thích như ta, mà ta để cho người yêu của ta còn giữ được quyền tự mình là mình. Trong tình yêu chân thật, không còn có sự kỳ thị, hai người cùng có chung một tương lai, khổ đau của người yêu chính là khổ đau của mình, hạnh phúc của mình cũng là hạnh phúc của người yêu. Trong tình yêu chân thật ta luôn nghĩ tới mọi cách để giúp người yêu thực hiện được những hoài vọng, những thao thức lý tưởng của người ấy như đang làm cho chính ta, và người ấy cũng sẽ yểm trợ cho ta như thế. Tình yêu của chúng ta sẽ không bị tôn giáo hay chủ thuyết giới hạn và cấm đoán. Khi ta thực sự có hạnh phúc trong tình yêu ta sẽ có khả năng tạo hạnh phúc cho nhiều người. Tình yêu ấy sau này không những sẽ ôm trọn được giống nòi mà còn ôm trọn được nhân loại, bởi vì tình yêu có tính cách của một cơ thể, nó có thể lớn mãi không ngừng để một ngày kia ôm trọn được cả thái hư. 

Tình yêu cũng giống như một loài hoa, phải được nuôi dưỡng mới có thể lớn lên và tồn tại lâu dài. Không có gì sống được nếu không có thực phẩm. Anh (hay chị) phải biết sử dụng những loại thực phẩm thực sự cần thiết cho sự nuôi dưỡng của tình yêu ấy và phải biết nuôi nó mỗi ngày. Nếu không thì tình yêu sẽ chết, sẽ trở thành chua chát, giận hờn, tuyệt vọng và hận thù. Hãy chăm sóc cho người yêu của mình như chăm sóc một bông hoa. Phải học che chở, bảo vệ, không bao giờ được nặng tay hay nặng lời. Lời nói cũng như hành động của ta có thể gây thương tích nơi người yêu của ta, hoặc làm cho những thương tích có sẵn trở nên trầm trọng hơn nơi tâm hồn người ấy... 

  


Nhớ Thầy-Hòa Thượng Thích Tịch Tràng-Vạn Giã-Nha Trang

Chung — Viết bởi giactam @ 18:16
 

   

NHỚ THẦY



Kính dâng Hoà Thượng Thích Tịch Tràng, để nhớ công ơn giáo dưỡng



Mãn hạ năm ấy, Thầy G. Tuệ an cư ở chùa Linh Sơn (Nha Trang) về. Thầy cho tôi biết: "Chùa Linh Sơn có Thượng tọa trụ trì bao dung đức độ lắm! Và ngoài giờ học phổ thông ra, ở chùa có dạy thêm nội điển nữa, do quý Thầy ở Vịện Cao Đẳng Phật Học về phụ trách. Tôi đã thưa Thượng tọa xin cho chú ở rồi đấy, nếu thích chú xin thầy mình vô đó học". Nghe sư huynh nói vậy, dòng máu du tử của tôi lại chạy rần rần trong huyết quản. Vả lại, miền thùy dương cát trắng ấy có một sức hấp dẫn lạ kỳ. Nơi có không biết bao nhiêu là cảnh tượng kỳ vĩ: Kim thân Phật Tổ trên đồi Trại Thủy, Tháp Bà với Thiên Y A Na nhiều huyền thoại và bãi biển dài thơ mộng đẹp nhất đất nước...

Tôi từ giã quê hương sương mù, đến miền thùy dương thơ mộng ấy vào một buổi sáng mùa thu, có chú G.Viên đi cùng. Tôi cứ ngỡ chùa Linh Sơn tọa lạc tại thành phố Nha Trang, hóa ra không phải, cách Nha Trang trên sáu mươi cây số, thuộc huyện Vạn Ninh. Chùa nhằm trên bờ sông Hiền Lương (tên thôn cũng là tên của dòng sông) con sông thật hiền lành bình thản y như cái tên đặt cho nó. Mỗi lúc thủy triều dâng, nước sông trong veo in rõ bóng chùa với hàng cây bạch đàn đứng trầm ngâm bên cạnh. Chùa là ngôi tổ đình, do một vị Hòa thượng ngừơi Quảng Nam vào khai sơn, cách đây vào khỏang hai trăm năm, rất cổ kính trang nghiêm. Vườn chùa trồng trên trăm cây dừa đã cho trái. Xoài, cam, ổi, mít, me...mỗi loại khỏang năm mươi gốc. Ruộng chùa trên mười mẫu, cho Phật tử làm rẽ, chùa có máy điện, tóm lại ta có thể xếp vào hàng chùa giàu. Tuy nhiên vì chúng Tăng đông quá, nên cháo rau hai buổi mới đủ ăn. Ngày tôi vào đó Tăng chúng đã trên bốn mươi vị rồi, tấm lòng của Thượng tọa trụ trì thật độ lượng vô biên, ai tới xin ở đều chấp nhận hết, nhưng với điều kiện là phải tu học, không được lơ láo qua ngày đọan tháng. Ngày đó tôi đang sức lớn, mà ăn cháo ngày hai lần, mỗi lần một lưng bát. Buổi trưa được ăn cơm nhưng với tiêu chuẩn, thành thử đói dập dồn, tay chân cứ bủn rủn hoài. Mỗi khi chùa có kỵ giỗ, ngồi nhìn mâm ăn như mèo nhìn mỡ, nuốt nước miếng ừng ực, rồi đến khi ăn, mạnh điệu nào nấy gắp, chỉ tích tắc là xong. Thì ra, đói ra ma no ra Bụt, đừng đòi hỏi ở người, bao tử lúc nào cũng lép xẹp những từ đẹp đẽ thanh cao.

Thượng tọa ăn ngày chỉ có bữa trưa, nhưng không cho dọn riêng. Người ăn chung với quý Thầy Tỳ Kheo, cũng chừng ấy thức ăn. Nhà bếp có dọn thêm đĩa thức ăn nào đặc biệt, thượng tọa cũng chỉ gắp vài miếng rồi chuyển cho quý Thầy. Ăn uống đã ít lại đạm bạc, song Thựơng tọa tụng kinh bái sám suốt ngày. Người tu theo pháp môn Tịnh Độ, lúc nào xâu chuỗi cũng cầm tay, lâm râm niệm danh hiệu Phật A Di Đà một cách miên mật và Ngừơi ngủ nghỉ cũng ít nữa, ba giờ sáng đã thức dậy hành trì. Mỗi lần chúng điệu cãi cọ xích mích nhau, Thượng tọa nghe được đến hòa giải, quở trách nhẹ nhàng: "Sao không niệm Phật đi? Đời người chỉ trong hơi thở, có gì đâu mà tranh cãi hơn thua. Tư lương của các chú đã có gì chưa? Chỉ có sinh tử là việc lớn, ngoài ra mọi việc đều nhỏ nhen. Đừng để tâm trí ta vướng bận vào những chuyện nhỏ nhen trong cuộc sống hằng ngày", Thượng tọa ăn mặc rất giản dị, và muốn môn đệ cũng giản dị như mình. Một hôm chiếc áo nhật bình màu khói hương của tôi bị vấy mủ chuối, tôi đem ra giếng ngồi tẩy. Thượng tọa đi ngang qua thấy vậy dừng lại hỏi:

- G.Tâm làm cái chi đó?
Tôi trả lời:

- Dạ, bạch Thượng tọa, con tẩy cái áo bị vấy mủ chuối.

- Chi chi kệ nó, tẩy làm gì, mặc vậy quí hơn. Đệ tử Phật vốn xưng là bần đạo mà, mặc đẹp mặc tốt người ta đổi chữ bần thành chữ phú sao?

Thượng tọa nói xong nở nụ cười y hệt Ngài Ca Diếp.

Người luôn lo lắng đến sự học của chúng Tăng, hằng nghĩ đến tương lai đạo pháp, nên sở học của mình có bao nhiêu đem truyền ra trao lại hết. Khi biết đệ tử học đã hết chữ nghĩa của mình rồi thì gởi đến các viện Phật học cao cấp để học thêm. Trước khi đi tu, Thượng tọa là giáo sư dạy Pháp văn nổi tiếng, vậy mà không khi nào nói chuyện xen đệm tiếng Tây vô. Có một lần Thầy Chánh Huệ viết một đọan Pháp văn trên bảng, Thượng tọa thấy vậy đứng xem, biểu thầy Chánh Huệ đưa viên phấn rồi Thượng tọa sửa lại mấy chữ và giảng giải. Mà thầy Chánh Huệ thuộc vào hạng khá môn Pháp văn nhất trong các Thầy ở chùa Linh Sơn, bữa đó ai nấy đều ngạc nhiên thích thú.

Ngoài những giờ dạy cho quý Thầy, quý chú lớn Thượng tọa còn dạy một tuần mấy buổi chữ Hán cho mấy điệu nhỏ. Tóc Thượng tọa bấy giờ đã bạc nhiều, mắt lại yếu phải mang kính lão, ngồi cầm quản bút lông viết thiếp cho mấy điệu đồ, còn điệu nào chưa có thiếp thì lại bàn Thầy chõ mắt vào dòm đợi. Sống vào thời buổi viết tòan bút sắt, mà còn có lớp học bút lông như vậy thấy cũng hay hay, trông giống lớp học thời xưa quá! Có điều lớp học này thỏai mái hơn, Thầy không có roi như cụ đồ và trong lớp cũng không có anh trưởng tràng nào để Thầy sai quất mông mấy chú học dốt cả.

Tiền bạc Phật tử cúng dường hoặc bán trái cây trong vườn chùa, Thượng tọa kéo học bàn bỏ vào không hề biết là bao nhiêu, rồi khi có học Tăng ở nơi xa đi lỡ đường ghé lại, lúc ra đi Thượng tọa đều cầm tiền giúi vào tay, cho mà cứ sợ "Người" không nhận. Lúc nào cũng nhắn nhủ dặn dò: "Ừ, đi học đâu thì đi, học cho giỏi rồi về đây ở với Thầy cho vui"

Ngày cuối cùng của cuộc đời, Thầy biết trước, ân cần phó chúc mọi chuyện xong mỉm cười mà hóa. Tử đệ kéo hộc bàn ra để lấy tiền lo đám, hộc rỗng không chẳng có một đồng. Cuộc đời Thầy thể hiện trọn vẹn nếp sống "bần đạo", bản thân Thầy thì tam thường bất túc như thế, nhưng tấm lòng vì nhân thế lại hữu dư.

Mùa xuân vừa rồi Sư huynh G.Tuệ và tôi trên đường hành hương có ghé lại Tổ đình Linh Sơn, đảnh lễ giác linh Thượng tọa. Ngôi Tổ đình vừa mới trùng tu thật nguy nga tráng lệ. Tôi có hỏi Thầy trụ trì Thiện Dương: "Tiền ở đâu mà Thầy trùng tu chùa to lớn dữ vậy?".Thầy mỉm cười trả lời: "Tiền của quý Thầy ngày xưa đã từng học nơi đây, giờ tuy tản lạc khắp nơi, có người ở cách xa trọn nửa trái đất như Canada, Washington, Cali...nhưng vẫn luôn hướng về cái nôi êm ái tình thương "Linh Sơn ngày ấy", nơi mà một thời đã khai tâm mở trí cho họ". Tôi ra thắp nhang nơi tháp mộ của Người, ngồi bên tháp rêu phong, vôi vữa đã lở ra từng mảng, đường nét đơn sơ giản dị như cuộc đời giản dị của Thầy, lòng chợt bâng khuâng nhớ thương thầy vô hạn. Tôi tự hỏi: "Động cơ nào đã thôi thúc Thầy nguyên là một vị giáo sư Pháp văn ưu tú con nhà quý tộc ở xứ Quảng, lại cắt ngang con đường công danh sự nghiệp, để vào đây nối bước theo chân Tổ mà nối đuốc đưa mọi người qua khỏi bóng đêm vô minh dày đặc và biến nơi đây thành một quê hương tâm linh cho tất cả ngưỡng vọng hướng về". Câu hỏi tự nêu chưa có câu trả lời, thì không hiểu sao tự dưng tôi lại nhớ đến bàn tay trái của Thầy chỉ còn bốn ngón, một ngón đã đốt cúng dường mười phương chư Phật trong ngày Thầy thọ đại giới, và rõ thêm một chút nữa là vì sao ngày xưa Thầy hay nhắc đến Hòa thượng Quảng Đức cũng đã có những năm tháng Trụ Trì ở nơi đây.

Hoà thượng Quảng Đức thung dung bất động ngồi trong lửa đỏ như ngồi trên hoa sen (để bảo vệ chân lý). Còn Thầy điềm nhiên khoái hoạt khi đốt tay cúng dường Tam Bảo. Thì ra sức mạnh tinh thần, sự tĩnh tại vô úy ở nội tâm của Người trước đã truyền lại cho Người sau và hốt nhiên tôi tìm ra câu trả lời thích đáng: "Thầy đã nối tiếp một cách rạng rỡ dòng giống của Phật chỉ bằng sức mạnh niềm tin không gì lay chuyển nổi và tình thương vô biên đối với con người - vạn hữu".


Thích Giác Tâm
Pleiku - Gia Lai
 


Ý NGHĨA TRAI ĐÀN BẠT ĐỘ -2

Chung — Viết bởi giactam @ 17:28
 

Ý NGHĨA TRAI ĐÀN BẠT ĐỘ


Thích Nữ Trí Hải

I. DẪN NHẬP



"Bạt" là nhổ lên, "độ" là vượt qua, thoát khỏi. Nhổ bật gốc rễ của lòng tham để vượt qua các nẻo luân hồi, đấy là mục đích chính của đạo Phật. Giáo lý Phật dạy rất nhiều, song chỉ có một vị duy nhất là ly tham, giải thoát. Để đạt đến cứu cánh ấy, có ba đường là Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông. Thiền chú trọng tự lực, Tịnh chú trọng tha lực, còn Mật tông thì phối hợp cả tự lực và tha lực để cuối cùng thấy tự, tha chỉ là một.

Trong một đàn tràng mandala, có đủ cả ba yếu tố thiền, mật và tịnh độ, nhưng yếu tố sau cùng là Tịnh độ thì khá lu mờ. Điều ấy làm ta thấy rõ, khi cô hồn đã lìa được tham ái chấp thủ thì ngay tức khắc được giải thoát, vì "Liên đài bất ly đương xứ, tịnh độ chỉ tại mục tiền". (Đài sen không rời chỗ ở hiện tại, đất tịnh nằm ngay trước mắt).

II.1. Mười hai loại cô hồn

Được triệu thỉnh bao hàm tất cả mọi người thuộc đủ các tầng lớp trong xã hội xưa cũng như nay. Mỗi đoạn văn triệu thỉnh đều có hai phần: đoạn trước nói về thân thế lúc đang sống, đoạn sau kể từ hai tiếng "ô hô" là lời than cho số phận của cô hồn. Văn chương rất súc tích; chính Nguyễn Du đã lấy hầu hết ý tứ trong nghi lễ này để soạn thành bài "Văn tế thập loại chúng sinh". Khi đọc lên, chúng ta có cảm tường không những kêu gọi nhắc nhủ người chết, mà còn cảnh tỉnh những người đang sống. Sau đây ta sẽ kể ra 12 loại cô hồn theo Khoa nghi, bản dịch của Cố HT Bích Liên, đồng thời đối chiếu các đoạn tương ứng trong Văn tế thập loại.

Loại cô hồn đầu tiên là "lụy triều đế chúa", những ông vua các triều đại đã qua, phần lớn là những ông vua chết do tai nạn "đổi đời". Đang trong cảnh thái bình "Mấy đời chín lớp ở cao, Non sông muôn dặm thâu vào một tay" nhưng bỗng chốc chiến hạm từ phương tây kéo đến, thế là "Thuyền chiến phút đổi thay vượng khí, Xe loan còn rủ rỉ hoan thinh". Và rồi "Ôi thôi, Đỗ quyên kêu trót tàn canh, Máu hờn nhuộm mãi trên cành đào hoa".

Kế đến là quan võ hay tướng tá: "Ngàn cân lực cử đảnh vàng, Thân trường thành vững trăm ngàn dặm khơi", nhưng thường chết bất đắc kỳ tử "Trướng hùm lạnh uổng đời hãn mã, khói lan tràn nào gã Phan long". Ôi thôi, "Ngựa nhà chiến tướng vắng không, Hoa hèn cỏ nội một vùng buồn thiu".

Loại cô hồn thứ ba là "bá quận danh thần" hay quan văn, gồm những quan huyện, phủ, tức là những nhân viên hành chính, thường phải nhậm chức xa nhà, chết xa quê hương. "Nhà châu quận xa làng phụ mẫu, Chốn nước trời theo dấu thần tiên. Ôi thôi, chinh chinh biển loạn sông nghiêng, Mờ mờ hồn bướm ly miền dương quan".

Về ba hạng này văn tế Thập loại có khác: Nguyễn Du không kể những ông vua chết bình thường, "lụy triều đế chúa", không kể những vua bị cướp ngôi, mà chỉ nhắc đến những kẻ "tính đường kiêu hãnh, Chí những toan cướp gánh non sông. Nói chi đương thuở thị hùng, Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau. Bỗng phút đâu lò bay ngói lở, Không đem mình làm đứa thất phu". Tức là những oan hồn kiểu Từ Hải. Tướng cũng vậy, Nguyễn Du chỉ kể những ông tướng phản loạn: "Kìa những kẻ bày binh bố trận, Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung. Gió mưa sấm sét đùng đùng, Phơi thây trăm họ làm công một người". Để đến kết quả là "Khi thất thế cung rơi tên lạc, Bãi sa trường thịt nát máu rơi, Bơ vơ góc bể chân trời, Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào". Về quan văn, Nguyễn Du nhấn mạnh hạng quan tòa xử án "Ngòi bút son thác sống ở tay", đã gây nhiều oan trái: "Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm". Khi chết thì "Ngàn vàng khôn đổi được mình, Lầu ca viện xướng tan tành còn đâu".

Hạng thứ tư là hạng sinh viên học sinh, "bạch ốc thư sinh". "Tan lửa đóm tiếc dày công học, Mòn đĩa nghiên uổng nhọc chí bền. Ôi thôi, lụa hồng bảy thước đề tên, Đất vàng một cụm lấp nền văn chương".

Đêm ngày chăm lo đèn sách, nhưng nửa chừng chết yểu thì những mớ kiến thức bỗng trở thành vô nghĩa. Hạng này tuy không bị bạo tử gian nan như ba hạng trên, vì chưa có danh phận, nhưng Khoa nghi cho ta thấy rằng kiến thức ở đời thật vô nghĩa khi đối mặt với cuộc tử sinh. Bởi vậy cái học đích thực phải là một cái học để thăng hoa, chuyển hóa con người, chứ không thể chỉ là kiến thức suông để tìm cơm áo, hư danh. Học cho nhiều mà đến khi chết vẫn mờ mịt về bản thân mình thì vẫn là một thất bại, vẫn thành một cô hồn vất vưởng. Trong Văn tế thập loại, Nguyễn Du nói về hạng này như sau: "Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý, Đem thân vào thành thị lân la, Mấy thu lìa cửa lìa nhà, Văn chương đã chắc đâu mà trí thân?" Nghĩa là vì công danh, lên kinh đô ứng thí, chưa đỗ đạt gì đã thành cô hồn: "Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng, Vợ con nào nuôi nấng kiêng khem". Bệnh mưa nắng qua loa đáng lẽ không đến nỗi chết, song vì không được săn sóc, nên chết sớm: "Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng, Anh em thiên hạ, láng giềng người dưng". Người thiên hạ đã xa lạ mà gặp "anh em" của thiên hạ thì lại càng xa hơn một bực, kẻ láng giềng cũng không phải của mình mà là kẻ láng giềng của "người dưng" (chỉ chủ trọ): được hạng này chôn thì chỉ làm quấy quá cho xong chuyện, nên "Cô hồn nhờ gởi tha phương, Gió trăng hiu hắt lửa hương lạnh lùng".

Hạng thứ năm là một số các vị tu sĩ, mà nguyên văn gọi là "xuất trần thượng sĩ". Hạng này cũng vậy, mục đích là xuất trần, và được gọi là thượng sĩ, nhưng tại sao lại còn quanh quẩn trong thế giới cô hồn? Ấy chính vì khi sống, họ chỉ nói suông những lời Phật dạy, lặp lại một cách máy móc lý Bát nhã, luận đàm về vô thường, khổ, không, mà chưa thực sự áp dụng chân lý ấy vào đời sống, vẫn còn tham một cái gì đó, nên không được siêu thoát. Do vậy, tuy rằng họ không bị chết bạo tử như vua chúa tướng tá, cái chết của họ vẫn ìà một tai nạn đáng thương, bởi vì chết mà chưa đạt mục đích của đời sống xuất gia.

Họ vẫn còn tiếc nuối một cái gì, nên lai vãng chỗ ở của họ trước đây trong chùa chiền: "Cửa kinh trăng thảm lạnh lùng, nhà thiền leo lét đèn chong canh dài" (Kinh song lãnh tẩm tam canh nguyệt, thiền thất hư minh bán dạ đăng.) Họ không siêu do vì đã "không đàm bí mật chơn thuyên" và "đồ thuyết khổ, không diệu kệ". Văn tế Thập loại của Nguyễn Du hoàn toàn không nhắc đến hạng này.

Hạng sáu là các huyền môn đạo sĩ, những người luyện linh đơn trong đạo Lão, những người coi bói tướng, thiên văn địa lý, đoán vận mệnh người khác mà chính vận mệnh của mình thì mù tịt nên vẫn trôi lăn trong sinh tử và chết rồi vẫn vất vưởng trong cõi trung gian không giải thoát được. "Ôi thôi! Lò hương lâm quán lãnh sương, tiếu đàn gió lạnh thổi tàn hạnh hoa". Văn triệu thỉnh nhắn nhủ họ quay về với chính đạo, bỏ các tà kiến, tà mạng nói trên.

Văn tê thập loại của Nguyễn Du cũng không nhắc tới hạng này.

Hạng thứ bảy là thương gia lữ khách buôn bán xuôi ngược để kiếm lời, rủi bị chết dọc đường. Hạng này cũng do tham lợi mà chết bất kỳ. "Thân sương gió thịt chôn bụng cá, bước đá mây xương rã đường đê. Ôi thôi, Vía theo mây bắc sề sề, hồn theo ngọn nước xuôi về biển đông". Nguyễn Du nói đến ba hạng thương gia: Hạng "tính đường trí phú, làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn". Đấy là hạng thương gia giàu nhưng cô độc và ích kỷ: "Ruột rà không kẻ chí thân, Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai?". Bởi thế nên khi họ chết thì "Khóc ma mướn thương gì hàng xóm, Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm, Ngẩn ngơ nội cỏ đồng chiêm, Tuần hương giọt nước biết tìm nơi đâu?" Hạng thương gia thứ hai tương đương với Khoa nghi chẩn tế: "Cũng có kẻ vào sông ra bể, Cánh buồm mây chạy xế gió đông Gặp cơn giông tố giữa dòng, Đem thân vùi lấp vào lòng kình nghê". Hạng thứ ba là tiểu thương kiếm sống qua ngày: "Cũng có kẻ đi về buôn bán, đòn gánh tre chín dạn hai vai, Gặp cơn mưa nắng giữa trời, Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?"

Hạng tám là chiến sĩ trận vong. "Cờ điều phất ngọn tương tranh, trong chòm mũi bạc đem mình chống đương. Gan ruột nát theo trường kim cổ da thịt rơi đầy chỗ can qua. Ôi thôi, cát vàng văng vẳng tiếng ma, mờ mờ xương trắng ai mà nhặt cho". Nguyễn Du thì: "Cũng có kẻ mắc vào cửa lính, Bỏ việc nhà gồng gánh việc quan, Nước khe cơm vắt gian nan, Dãi dầu muôn dặm lầm than một đời". Hạng này khi sống đã khổ, mà chết còn thảm thê hơn: "Buổi chiến trận mạng người như rác, Phận đã đành đạn lạc tên rơi, Lập lòe ánh lửa ma trơi, Tiếng kêu thăm thẳm tối trời càng thương".

Hạng thứ chín là những sản phụ chết cả mẹ lẫn con: "Vần cung phụng phút chường hung kiến, tuồng ngõa chương rơi rớt mẹ con". Ôi thôi, "nhành hoa nở trận mưa tuôn, đương khi trăng tỏ gặp luồng mây xâm".

Văn tế thập loại chỉ nhắc đến trẻ sơ sinh bị chết: "Kìa những đứa tiểu nhi nhỏ bé, lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha, Lấy ai bồng bế vào ra, U ơ tiếng khóc xót xa nỗi lòng".

Hạng mười là những kẻ đui điếc câm ngọng, tôi tớ nô tỳ bị chết vì tai nạn lao động "cần lao thất mạng thương nô", những tì thiếp bị vợ cả ghen tuông mà phải vong mạng do tự sát hay do bị đầu độc "đố kị thương thân tì thiếp". Những người này sở dĩ phải chịu một đời khốn nạn vì kiếp trước đã không tu, khinh khi Tam bảo, ngỗ nghịch đối với cha mẹ, tạo nhiều tội nghịch nên nay phải trả quả báo, gọi là "báo chướng". "Khinh Tam bảo tội dường cát bãi, nghịch song thân ác dẫy cõi người. Ôi thôi, đêm trường thăm thẳm bóng ma, cửa mù thui thủi như tòa thu đông". (Trường dạ mang mang hà nhựt hiểu, U quang ẩn ẩn bất tri xuân). Văn tế thập loại không kể riêng một hạng này, thay vì thế, lại có một hạng mà Khoa nghi không nhắc tới, đó là hạng buôn hương bán phấn: "Lại có kẻ lỡ làng một kiếp, Liều tuổi xanh bán nguyệt buôn hoa". Số phận của họ thật thảm: "Sống đã chịu một đời phiền não, thác lại nhờ hớp cháo lá đa" vì không có chồng con cúng tế.

Hạng mười một là những cung phi mỹ nữ như Dương quý phi, gặp lúc thất thế phải tự sát, tự trầm: "Hồn vân vũ tan vườn Kim cốc, Ruột trăng hoa héo dọc Ma ngôi". Ôi thôi, "Phong lưu ngày trước đâu rồi, xương khô lạnh lẽo trên chồi cỏ cây". "Kim cốc" là nhà vàng do tỷ phú Thạch Sùng xây cho người đẹp Lục Châu ở, Mã Ngôi là nơi Dương quý phi bị bức tử. Văn tế nêu lên hai người đẹp chết oan, (một người đoan chính là Lục châu không chịu nhục nên tự sát, và một người ăn ở hai lòng là Dương quý phi thì bị bức tử) để cho ta thấy rằng "cô hồn" bao hàm nhiều hạng sang hèn thiện ác chứ không chỉ thuần là kẻ ác mới thành cô hồn. Văn tế thập loại thì "Kìa những kẻ màn lan trướng huệ, Những cậy mình cung quế Hằng nga" đến khi đổi đời "một phen thay đổi sơn hà" thì "Trên lầu cao dưới dòng nước chảy, phận đã đành trâm gãy bình rơi, Khi sao đông đúc vui cười, Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương".

Cuối cùng là những hành khất, tù nhân bị tử hình, những kẻ chết ngang trái do tai nạn nước, lửa, bị thú dữ ăn thịt, ngộ độc, tự ải, sét đánh... "Lại thỉnh kẻ cơ hàn khất cái, Cùng tù nhân mang phải trọng hình, Gặp tai nước lửa hại mình, Hoặc vương hùm sói tan tành thịt xương". Văn tế thập loại có những đoạn tương đương như sau: "Cũng có kẻ nằm cầu gối đất, Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi, Thương thay cũng một kiếp người, Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan". Về hạng tù nhân, Nguyễn Du nhắc đến hạng chết trong ngục thay vì bị tử hình: "Lại những kẻ mắc oan tù rạc, đem mình vào chiếu nát một manh. Nắm xương chôn lấp góc thành, Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?" Và trong đoạn cuối Văn tế thập loại, cụ Nguyễn Du đã kể chung các hạng người chết ngang trái như sau: "Có những kẻ chìm sông lạc suối, Cũng có người sẩy cối sa cây, Có người gieo giếng, thắt dây, Người trôi nước lũ, kẻ lây cháy thành. Người thì mắc sơn tinh thủy quái, Người thì sa nanh sói ngà voi. Có người hay đẻ không nuôi, Có người sa sẩy, có người khốn thương!" Ngày nay còn các tai nạn khác như điện giựt, rớt máy bay, đụng honda, tai nạn lao động trong các nhà máy, tai nạn do nhiễm phóng xạ nguyên tử, tai nạn do hóa chất... không bút nào tả cho xiết những loại chết ngang trái này. Lại nữa, trong 12 loại cô hồn, cả trong Khoa nghi lẫn Văn tế thập loại đều không thấy nhắc đến một hạng người khốn đốn nhất ngay cả lúc đang sống, đó là hạng người mắc bệnh thần kinh.

Sau nhiều giai đoạn nghi lễ rất chi tiết có tính cách chuyên môn - gồm có lễ Phật, thỉnh sư thăng tòa, thỉnh Tì lô giá na Pháp thân Phật ngự trên mão đội, kết giới năm phương hướng, kết giới hàng ma, và bắt ấn đọc thần chú để làm cho đàn tràng trong ngoài thanh tịnh, gia trì thần lực vào các pháp khí như chuông, mõ, linh, khánh, v.v.. cùng các đồ cúng - tất cả 12 loại cô hồn được mời thọ hưởng pháp vị Cam lồ. Vị chủ sám xướng đại khái như sau:

"Tôi nay thừa oai thần chư Phật, xin mời tất cả quỷ thần trong ba nẻo sáu đường. Nguyện cho tất cả các bộ loại quỷ thần nhờ năng lực Như lai, vào giờ này được hấp thụ Pháp vị cam lồ ngon nhứt cua Phật, ăn uống no đủ, phát tâm bồ đề xa lìa tà hạnh. Nhờ vậy không còn phải luân hồi trong các ác đạo, ba nghiệp thân miệng ý thanh tịnh, chứng đạo bồ đề". Sau đó là phần khai thị cho cô hồn về chân lý nòng cốt của Phật, là tất cả đau khổ tội ác đều do vô minh, tham ái. Ánh sáng từ bi của Phật chiếu cùng khắp, như mặt trời không soi sáng riêng ai, chỉ tại người mù không thấy. Bây giờ, hãy từ bỏ vô minh cố chấp, nương theo ánh từ quang của Phật tức thì được giải thoát khỏi các đường dữ.

2. Tam mật gia trì

Sự cầu nguyện cốt ở chỗ thân, khẩu, ý ba nghiệp phải hoàn toàn thanh tịnh gọi là "tam mật gia trì" để hợp nhất tự lực với tha lực, thành một năng lực vô biên có thể "bạt độ" tất cả cô hồn. Ở đây hai yếu tố Thiền, Mật kết hợp chặt chẽ. Trước khi quán các tướng (như quán ánh sáng của Phật, quán các đồ cúng đầy khắp hư không và đủ loại cần dùng cho đủ loại cô hồn: tỉ như nước uống thì phải quán nhiều thứ nước như la de, xá xị, nước mía, nước sinh tố, pepsi-cola và mọi thức uống khác hiện có trên thị trường) thì cần thiết tâm phải trống rỗng tất cả mọi khái niệm, như một bầu trời bao la không một gợn mây trong đó. Trong Chân không có đủ tất cả, mặc dù nhìn bằng mắt thịt thì chẳng có gì: "tức Giới, tức Định, tức Tuệ, phi mộc, phi hỏa, phi yên".

Từ cái tâm thanh tịnh quán ra chư Phật, Bồ tát đầy cõi Hư không, hoặc quán ra quỷ thần, cô hồn, thực phẩm đầy cả hư không. Khi đã quán được cái không thành cái có, thì có thể thấy được cái có cũng là không, cả hai cái có, không đều từ Chân tâm biến hiện, đều như huyễn. Bát nhã tâm kinh dạy, vật chất không khác chân không, chân không chẳng khác vật chất. Vật chất chính là chân không, chân không chính là vật chất. Trong Chân không, bao hàm tất cả vật chất, vì tất cả vật chất rút giảm đến cùng chỉ là nguyên tử, nguyên tử khi được phân tách lại gồm có âm điện tử, dương điện tử và trung hòa tử, những thứ này vừa là ánh sáng vừa là năng lượng, vừa động vừa tĩnh, vừa là sắc, vừa là không. Mọi sự vật từ vật chất đến tinh thần đều được kết hợp bằng những nguyên tố đơn giản nhất ấy, tùy tỉ lệ và cách sắp xếp của chúng mà có ra vạn loại. Sự khám phá này của khoa học vật lý đã tiến rất gần đến Phật giáo và giúp người ta hiểu được phần nào về mật tông.

Trong mật tông, mỗi vị Phật hay Bồ tát, mỗi nguyên tố vũ trụ như địa thủy hỏa phong đều có chủng tự và ấn quyết riêng. "Chủng tự" là những âm thanh tương ứng với một vị Bồ tát, hình thức ngắn gọn của thần chú. Mỗi nguyên lý cấu tạo vũ trụ cũng có chủng tự riêng, như phạn tự LAM tiêu biểu Địa giới, VAM tiêu biểu Thủy giới, RAM tiêu biểu Hỏa giới và YAM tiêu biểu Phong giới (hay Không giới). Nghĩa là, không có gì khác nhau giữa LAM với đất, VAM với nước..., và một vị đắc tứ thiền (vì cần phải KHÔNG TÂM trước, tức là TỊNH CHỈ hoàn toàn, mới quán được thành công, và thành công đây là "thần thông" hô phong hoán vũ) chỉ cần lẩm nhẩm những chủng tự này và quán nước, quán đất là có thể hóa phép thành nước để dập tắt lửa, hay thành đất để đi giữa hư không hoặc đi trên nước. Tay bắt ấn là thân nghiệp, miệng đọc chú là ngữ nghiệp, tâm quán tưởng chủng tự là ý nghiệp. Có thể nói rằng, "tam mật gia trì" giống như một phòng thí nghiệm vật lý trong đó mọi điều kiện phải được hoàn tất thì mới có được hiệu quả mong muốn.

3. Ngũ phương Phật

Ngũ phương Phật tượng trưng cho năm uẩn không còn bị chấp thủ trong một bản ngã, gọi là Ngũ trí Như Lai: Ở trung ương, đức Tì Lô Giá Na tượng trưng Sắc uẩn và cũng là Pháp giới thể tính trí. Đông phương là Phật Bất Động hay A Súc Bệ, tượng trưng Thức uẩn đã chuyển thành Đại viên cảnh trí. Nam phương là Phật Bảo Sinh, tượng trưng Thọ uẩn đã chuyển thành Bình đẳng tính trí. Tây phương là Phật A Di Đà, tượng trưng Tưởng uẩn đã chuyển thành Diệu quan sát trí. Bắc phương là Phật Bất Không Thành Tựu, tượng trưng Hành uẩn đã chuyển thành Thành sở tác trí. Mật tông khi truyền sang Trung Quốc còn chịu ảnh hưởng Dịch lý, nên Ngũ phương còn tượng trưng Ngũ hành trong Dịch học: Trung ương là hành Thổ, sắc vàng, phương Đông là hành Mộc sắc xanh, phương Nam là hành Hỏa sắc đỏ, phương Tây là hành Kim sắc trắng, phương Bắc là hành Thủy sắc đen (hoặc lục).

Con người là một tiểu vũ trụ đầy đủ tất cả tiềm năng của đại vũ trụ bên ngoài, vì được cấu tạo bởi cùng những nguyên tố là địa thủy hỏa phong, và cũng theo những quy luật âm dương ngũ hành như vũ trụ.

Vì tự giam mình trong cái vỏ cứng của sự chấp thủ, gọi là năm thủ uẩn, ta tự tạo ra một bản ngã hẹp hòi mà chỉ là ảo tưởng, bản ngã ấy lên xuống qua lại trong các nẻo luân hồị để chịu bao nhiêu đọa đày thống khổ. Vì bản ngã đã phi thực, nên khổ cũng phi thực, chỉ như người và cảnh trong mộng. Khi tỉnh mộng rồi ta mới biết cái "tôi" trong mộng và những gì cái "tôi" ấy kinh nghiệm trong mộng đều không thực có. Giải thoát là lìa chấp thủ, khi hết chấp thủ vào một cái tôi riêng rẽ, thì con người và vũ trụ là một. Ngũ uẩn thành ngũ trí Như lai, nghĩa là thành những năng lực vô tận vô biên để cứu thoát chúng sinh trong các đọa xứ.

Nhưng chúng sinh vốn là Phật, chỉ vì chấp thủ mà thành chúng sinh, cho nên trong việc "cứu độ" của Phật, cần có sự hợp tác chặt chẽ của chính những chúng sinh được cứu. Trong không gian luôn luôn có những luồng điện đủ các tần số đang phát sóng, mỗi chúng sinh ví như một cái radio, cần phải bật lên và vặn đúng tần số mới nghe được. Sự tu tập và cứu độ trong mật tông căn cứ trên nguyên lý ấy.

Tính Không, nguyên lý nòng cốt của mọi sự, gọi là Pháp giới, nằm ở trung tâm. Nó là chỗ phát xuất và chỗ trở về của vạn pháp trong vũ trụ. Tương tự nguyên lý Dịch, từ thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh ra bát quái, từ bát quái biến ra 64 quẻ cho đến vô cùng tận, một đồ hình mật tông cũng thế, tất cả Phật, Bồ tát, thiện thần, hung thần đều là hóa thân của Kim cương tát đỏa, và Kim cương tát đỏa là hóa thân của đức Tì lô giá na. Năm Phật ở năm phương chỉ cần ngồi đấy không cần phải làm gì cả, nên thường gọi là Phật thiền (Dhyàni Buddhas). Hành động phóng quang cứu khổ, vân vân, đã có các hóa thân thành hai mặt đối kháng như lành và dữ, nam tính và nữ tính, vân vân.

Cho nên hai bên mỗi vị Phật thường có hai Bồ tát hầu cận, tượng trưng hai nguyên lý đối nghịch ấy, như lưỡng nghi sinh từ Thái cực. Phật không làm gì, nhưng không có Phật thì không xong việc gì cả. Ngài an tọa ở đấy nhưng cứu độ được cả mười phương chúng sinh, khi chúng sinh nâng cao tâm hồn đủ để bắt gặp những tần số rung động của các hóa thân Phật. Ta có thể ví chư vị Phật thiền ở ngũ phương giống như những yếu tố xúc tác (catalyst) trong hóa học, một hiện diện vô hành nhưng rất cần thiết.

Khổng Tử cũng nói: "Trời không nói gì cả, mà bốn mùa vận hành, trăm hoa tươi tốt". Lá xanh cần mặt trời như thế nào, thì chúng sinh cũng cần Phật như thế ấy, mặc dù Phật chỉ việc ngồi đấy mà thôi, mọi sự độ sinh đã có chư vị Bồ tát chiếu liệu. Và ở hóa thân, thì có hai mặt lành dữ, nhưng tựu trung cũng chỉ từ một căn bản. Như Bồ tát Quan Âm cứu khổ khi hóa thành Diện nhiên Đại sĩ để thống lĩnh 12 loại cô hồn thì phải có gương mặt thật dữ dằn. Tại vì chúng sinh có kẻ cần phải dùng biện pháp mạnh mới hàng phục được.

Trong một mandala đầy đủ (gồm trên 100 vị phật, Bồ tát, thiện thần, hung thần - ngũ phương Phật chỉ là cái lõm) những hung thần (như Tiêu diện) tượng trưng cho những khuynh hướng xấu ác trong tâm, hoặc sự tự trừng phạt của một lương tâm bất an do ác nghiệp; vì Phật giáo vốn không công nhận có sự thưởng phạt của một quyền năng bên ngoài. Chư thiên thiện thần chỉ đóng vai trò ngoại hộ, hỗ trợ tinh thần cho bậc tu hành, chứ không giải thoát cho ai được cả. Nhiều người xem chẩn tế hiểu lầm mật tông là một hình thức mê tín đa thần (thần quyền), nhưng Tử thư - quyển sách mà người Tây Tạng đọc để hướng dẫn người sắp chết - luôn luôn nhắc nhở rằng, tất cả hiện tượng gì họ thấy trong tâm nhãn trước giờ chết đều do tâm biến hiện, đừng sợ hãi khiếp đảm mà cần giữ tâm chuyên nhất, hoặc hướng về ánh sáng tiếp độ của Phật thì sẽ được giải thoát. Người giữ được nhất tâm trước những hình ảnh khủng khiếp gọi là giải thoát nhờ thiền định, hay tùy pháp hành, còn người nhờ niệm Phật, sám hối mà không sợ hãi và cuối cùng nhận ra các hiện tượng đó đều do tâm tạo, thì gọi là giải thoát nhờ đức tin, hay tùy tín hành. Nhưng thiền định hay đức tin đều do tự mình khổ công đào luyện suốt cả đời may ra mới công hiệu khi chạm mặt với cái chết.

Thần chú (mantra) cũng như chủng tự mỗi vị Phật liên hệ đến một màu sắc khác nhau, như Tì Lô Giá Na màu vàng, A Súc Bệ màu xanh, Bảo Sinh màu đỏ, A Di Đà màu trắng, Bất Không Thành Tựu màu đen hay lục.

Sự đọc chú, tâm tập trung quán tưởng là điều kiện cần thiết để có cảm ứng chuyển được vật và triệu thỉnh được thần. Điều này có vẻ huyền bí nhưng kỳ thực chỉ là một sự nối dài của nguyên lý vật lý mà ta đã biết về âm thanh đến một tần số nào đó có thể làm vỡ kính, hay một ví dụ khác, người Việt khi nghe tiếng "me chua" thì chảy nước miếng. Nếu không để ý, hoặc phát âm thành "mè" hay "mẻ" thì không có tác dụng gì cả.

Theo cuốn Tử thư của người Tây Tạng, một người mới tắt thở, nếu suốt đời đã tu chứng cao, có trí tuệ, khi gặp ánh sáng Pháp giới (biểu trưng năng lực vũ trụ) thần thức sẽ nhập một với ánh sáng và được giải thoát ngay, không phải trải qua giai đoạn trung ấm tức là khoảng thời gian người chết biết rằng mình đã chết (thường là ba ngày rưỡi sau khi tắt thở) cho đến 49 ngày sau. Nếu vụng tu, khi gặp ánh sáng Năng lực vũ trụ, thần thức sẽ vô cùng kinh hãi, trốn chạy như trong một cơn ác mộng, và thế là lỡ mất cơ hội giải thoát. Người mới chết thường chưa biết mình chết, nên thấy bà con khóc lóc thì bực mình. Họ kêu gọi người thân đang khóc nhưng không ai nghe, mặc dù họ vẫn nghe được, biết được mọi sự xảy ra trong thế giới người sống. Sau đó, người chết rơi vào một trạng thái bất tỉnh trong ba ngày rưỡi; và khi tỉnh dậy, có một sự sáng suốt bừng lên, biết mình đã chết, và do không chịu nổi trạng thái không thân, họ toan tìm lối nhập vào một bào thai để có một thân xác. Trạng thái 49 ngày của thân trung ấm khởi đầu từ đây. Ngày thứ nhất (tức khoảng ba ngày rưỡi sau khi tắt thở), hào quang vàng của Pháp thân Tì Lô Giá Na chiếu đến cứu độ và đồng thời lại có ánh sáng cõi trời màu trắng đục chiếu đến.

Ánh sáng của Phật rất xốn xang (nhất là đối với người không quen nghe kinh niệm Phật) còn ánh sáng cõi trời thì dịu hơn, thế là người ấy tái sinh lên trời. Nếu là người ác, họ có thể để tuột mất cả hai ánh sáng này, lang thang qua ngày thứ hai. Khi ấy Kim cương tát đỏa hóa thân của Phật A Súc tượng trưng Thức uẩn thuần tịnh chiếu đến ánh sáng màu xanh; ngày thứ ba đức Bảo Sinh (tượng trưng thẩm mỹ) chiếu đến ánh sáng màu đỏ; ngày thứ tư Phật A Di Đà chiếu ánh sáng màu trắng (tưởng uẩn thuần tịnh); ngày thứ năm Phật Bất Không chiếu đến ánh sáng màu lục. Mỗi lần ánh sáng cõi Phật chiếu đều có thêm ánh sáng tương tự nhưng dịu và đục cũng chiếu đến, và những ánh sáng này tương đương với các cõi a tu la, người, địa ngục, ngạ quỷ. Do vậy, người chết được nhắc nhở luôn luôn đừng đi theo những ánh sáng đục, dịu vì đấy là những nẻo luân hồi mà họ sẽ rơi vào. Hãy luôn luôn đi theo những ánh sáng chói chang của Phật. Điều này theo quy luật đồng thanh tương ứng, nếu người chết từng nặng về sắc, hay thọ, hay tưởng, hay hành, hay thức, thì khi chết sẽ đi theo những gì mà họ khoái nhất lúc sinh tiền, tượng trưng bằng những ánh sáng của Phật và các cõi. Nếu người chết vẫn trốn chạy tất cả ánh sáng, do sợ hãi và lưỡng lự, thì qua ngày thứ sáu, tất cả hóa Phật ở năm phương hướng đồng loạt chiếu hào quang đến một lần chót, tựa như một mẻ lưới cuối cùng, để cứu vớt. Kể từ ngày thứ bảy trở đi, thần thức mò mẫm qua các nẻo luân hồi để tìm một thân xác, cho đến khi gặp một hoàn cảnh thích ứng với nghiệp của nó, và như thế là có tái sinh, nhập thai và già chết như cũ nên gọi là trôi lăn hay luân hồi. Đấy là sơ lược tiến trình của một thân trung ấm qua 49 ngày sau khi chết, vì lý do đó mà có sự kết giới ngũ phương tượng trưng năng lực cứu độ của chư Phật đối với 12 loại cô hồn.

Ở đây có thể khởi lên một câu hỏi: nếu không có một bản ngã, nếu là vô ngã, thì AI luân hồi? Trả lời: không ai cả, chỉ có luật ĐỒNG KHÍ TƯƠNG CẦU vận hành ở đây. Năm uẩn khi tan rã, cái gì thuộc đất trở về đất, nước đi theo nước, hơi trở về hư không, đó là phần "sắc uẩn" tức thân xác. Phần vô hình cũng có nhiều yếu tố như thương, giận, sợ, si, thù, ghét, buồn, hận, vân vân, mỗi thứ đều có những "phóng xạ" những tần số rung động khác nhau. Nếu một người khi sống tham dục nhiều, thì phần "khí" của họ có rất nhiều phóng xạ tham dục, và sẽ bị thu hút tới những chỗ nào nhiều tham dục nhất như loài heo, nếu người ấy đồng thời không có một nghiệp lành nào, không ưa gì khác ngoài sự hưởng thụ vật dục. Con heo kiếp sau và con người kiếp trước không phải là một, nhưng quả có chịu ảnh hường của con người kiếp trước, nên cũng không thể nói là hoàn toàn khác. Cũng giống như trong một đời người, lúc sơ sinh khác hẳn lúc trưởng thành, từ thân thể cho đến tính tình, tri thức, đến nỗi ta khó mà nhận ra cả hai chỉ là một.

III. KẾT LUẬN

Nếu ta ý thức sự cứu tế xã hội cần thiết trong cõi người sống như thế nào, thì trong cõi vô hình, sự bạt độ vong linh cũng cần thiết như thế ấy: "Sống làm sao, chết làm vậy". Con người không những chỉ sống bằng lý trí mà còn sống bằng tình cảm. Cúng giỗ người chết cũng như tiếp tế cho người thân ở xa, chẳng những làm ấm lòng kẻ ra đi mà còn an lòng người ở lại. Điều cần thiết là phải làm thế nào để sự cúng tế vừa hợp lý vừa hợp tình "Lý" đây là chân lý Phật đã dạy, theo đó chết chỉ là một chuyển tiếp qua đời sống khác, nếu còn ở trong vòng luân chuyển. Như vậy, rất cần chuẩn bị cho người chết một tái sinh tốt đẹp bằng phương pháp thực hành các việc phước như ăn chay, bố thí, phóng sinh nhân danh người quá cố. Dù người chết không thực sự hưởng các đồ cúng, vẫn nhờ công đức bố thí ấy mà được lợi lạc. (Theo lời Phật dạy, chỉ có kẻ đọa vào loài quỷ đói mới hưởng đồ cúng.) Huống hồ, trong một trai đàn, phẩm vật hiến cúng tuy nhiều song vẫn chưa quan trọng bằng "pháp thí", cam lồ pháp thực để cảnh tỉnh người còn kẻ khuất. Đó mới thực là cuộc lễ hội bố thí vĩ đại đem đến kết quả quốc thái dân an.


Tình và Nghĩa - 2

Chung — Viết bởi giactam @ 17:21
 

Tình và Nghĩa


Thiền Sư Nhất Hạnh


Trong tiếng Việt có chữ Tình
và chữ Nghĩa . Chữ Nghĩa rất là khó dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh. Chữ Tình mà viết ra chữ Hán thì có chữ tâm tức là trái tim phía bên trái. Bên phải có chữ thanh là màu xanh, trái tim màu xanh. Ban đầu thì màu xanh mà về sau nó có thể biến thành màu khác, nhưng làm sao đừng để nó thành màu đen.

Tình ban đầu thường rất bồng bột, nóng bỏng, có tính đam mê. Khi con người bị năng lượng của tình chiếm cứ thì họ không được an ổn lắm. Ăn không an mà ngủ cũng không an, họ như đang bị đốt cháy. Tình là ngọn lửa. Người nào qua cầu rồi thì mới hay. Vướng vào chữ tình rồi thì khó an trú trong hiện tại lắm. Cứ nghĩ tới giây phút mình sẽ được gặp người đó, được ngắm người đó, ngồi ngắm đủ no rồi, khỏi ăn. Càng nhiều trở ngại chừng nào thì đam mê đó càng lớn. Trở ngại là chất liệu làm cho tình càng lớn. Dễ dàng quá thì tình không lớn mạnh.

Ngày xưa khi chưa có e-mail, chưa có téléphone, đôi khi mình đợi một lá thư tình cả tuần này sang tuần khác. Đáng lý hôm qua lá thư tới rồi, nhưng sao nó chưa tới?

Mình đợi suốt hai mươi bốn giờ đồng hồ cho đến lúc ông phát thư đi ngang trước ngõ. Ông thường đến lúc mười giờ sáng, thì chín giờ mình đã bắt đầu đứng đợi. Ông phát thư sáng nay sao đi trể quá, đi chậm quá, mình đếm từng bước của ông đi. Nếu ông đi ngang mà không dừng lại thì mình buồn lắm, lại phải đợi thêm hai mươi bốn giờ đồng hồ nữa. Tây Phương họ ví khi yêu như bị té (tombé d'amour), đang đi bình thường tự nhiên té xuống. Người Việt Nam thay vì nói bị té thì nói ốm. Tây Phương cũng nói ốm. Nguyễn Bính có hai câu thơ :

Gió mưa là bệnh của trời.
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Trời đẹp thì không có bệnh mà hể có gió, có mưa là bị bệnh. Tương tư tức nhớ nhau, không làm ăn được gì hết. Tình thường thường không được thỏa mãn là tình sầu. Sầu tình. Ốm là ốm tương tư, tương tư là nhớ nhau. Tình yêu là một cơn bệnh, ốm tương tư tức là nhớ quá. Nhưng nếu tình yêu đó được thỏa mãn dễ dàng, nó bùng lên rất nhanh nhưng rồi nó chết cũng rất mau. Đam mê nó lên như một ngọn lửa cao và khi rơi xuống thì cũng rất là mau, tình yêu tàn lụi rất là mau. Một cặp ở với nhau được lâu dài, cái đó không phải là nhờ tình yêu mà nhờ yếu tố thứ hai. Đó là nghĩa, tình nghĩa. Cái tình nó đưa tới cái nghĩa. Nếu cái tình đàng hoàng, nếu mình biết yêu cho đàng hoàng, thì tự nhiên nó đưa tới cái nghĩa. Chính nghĩa là keo sơn gắn chặt hai người, để hai người có thể sống được với nhau. Cho nên phải có cái nghĩa để bổ sung cái tình. Người ta không thể sống trăm năm bên nhau với tình được. Bởi tình là một ngọn lửa tàn rất mau, nghĩa trái lại nuôi dưỡng lửa tình âm ỉ cháy.

Chữ nghĩa thường đi đôi với chữ ơn: ơn nghĩa. Ơn đầu tiên mà mình nhận được là ý thức rằng : Có bao nhiêu người con gái, anh ấy không chọn mà anh chọn riêng mình? Biết bao nhiêu người con trai có bằng cấp, địa vị nàng không chọn mà nàng lại chọn mình? Ý thức đó là ơn. Tình yêu này nó không chỉ trong vòng nam nữ. Bạn bè cũng vậy, Cha mẹ cũng vậy, Thầy trò cũng vậy. Mình sinh ra một đứa con và đứa con đã chọn mình làm mẹ, chọn mình làm cha. Tại sao nó không sinh ra ở nhà khác?  Cha mẹ có thể biết ơn đứa con, sự ra đời của đứa con có thể đem lại ánh sáng và hạnh phúc cho cuộc đời còn lại, nên cha mẹ yêu thương con. Cũng như thầy trò, tại sao có nhiều thầy, người đó có thể tới quy y mà người ta chọn thầy này. Người thầy cũng biết ơn người đệ tử. Ơn đó là yếu tố của hạnh phúc. Tại sao anh không chọn người khác? Sự lựa chọn đó là do đâu mà có? Nếu chỉ là sự ham muốn sắc đẹp thôi, không đủ, phải có cái gì đó.

Ở bên Mỹ có anh chàng đó rất đẹp trai, tài ba, tốt nghiệp đại học thuộc hàng ưu tú và có việc làm lương rất lớn lại có rất nhiều cô bạn gái thật là xinh đẹp. Bà mẹ rất là ngạc nhiên khi thấy anh  thân với một cô gái không phải là đẹp nhất. Cô này hơi thấp và nước da hơi đen, mà sao con trai của mình có vẻ thích cô này hơn các cô khác. Hôm đó hai mẹ con ngồi với nhau, bà hỏi có bao nhiêu người con không chọn, mà sao con chọn con nhỏ này vừa đen vừa thấp. Anh chàng không biết trả lời làm sao hết, anh chàng chưa suy nghĩ nên khi bị hỏi bất ngờ, anh không trả lời mẹ được. Nhưng ít lâu sau anh ta quán chiếu và tìm ra câu trả lời, cô này mỗi khi anh nói chuyện thì cô lắng nghe. Anh là nhà khoa học nhưng anh cũng ưa làm thơ. Mỗi khi anh đọc thơ, cô lắng nghe và cô chứng tỏ hiểu được thơ của anh. Còn những cô gái kia cũng nghe thơ anh nhưng mà nghe do phép lịch sự thôi, bị nghe thơ chứ không thích. Cô này thì khác, cô thích thơ, cô thưởng thơ, cô tham gia thơ và cô trở thành tri kỷ của anh chàng. Trên cuộc đời này có thể tìm được một người có thể hiểu mình được thì mình là người có hạnh phúc. Món quà quý nhất mà người kia có thể tặng cho mình là hiểu được mình. Có những người sống trong cuộc đời này nhưng chưa bao giờ tìm được một người có thể gọi là hiểu mình cả. Mà nếu mình là một người con trai hay một người con gái và trong cuộc sống này mình có thể tìm được một người có khả năng lắng nghe mình, có thể hiểu được mình, hiểu những khó khăn những khổ đau những ước vọng của mình, thì mình tìm thấy nơi người đó một tâm hồn tri kỷ.

Đời một người là để đi tìm một người tri kỷ, một người biết được mình. Tìm ra được người đó thì hạnh phúc vô cùng. Ngày xưa có một người chơi đàn rất là hay, bạn hữu không có ai hiểu được tài năng của ông ta. Người này làm quan và chưa bao giờ trong  giới quan chức bạn bè thân thuộc mà tìm được người có thể hiểu được tài ba của mình. Vì vậy mỗi lần đánh đàn ông thường đem theo vài người hầu cận lên trên núi, tìm một chỗ rất là đẹp, trải chiếu ra, pha trà, đốt trầm lên. Không khí trang nghiêm lúc đó ông mới chơi đàn. Ông cảm thấy như chỉ có suối, cây, mây, gió mới hiểu được tiếng đàn của ông. Một hôm đang đàn thì tự nhiên  dây đàn bị đứt. Thay dây mới vừa đàn thêm một câu nữa thì nó đứt nữa. Ông ta nghĩ chắc có người đang nghe lén tiếng đàn. Ông đứng lên nói lớn có vị nào đang nghe lén tôi đàn xin bước ra, làm như vậy không có dễ thương. Thì tự nhiên có một anh tiều phu xuất hiện, anh tiều phu này đã nghe lén. Anh tiều phu này có lỗ tai rất là hay, nghe và hiểu được tất cả những cái hay, cái đẹp, cái quý, cái tài ba của người đàn. Vì vậy cho nên dây đàn bị đứt. Anh chàng tiều phu tên là Chung Tử Kỳ và người đánh đàn là Bá Nha. Bá Nha lần đầu tiên tìm ra được người hiểu được tiếng đàn của mình. Tử Kỳ chấp nhận làm bạn với Bá Nha nhưng không muốn về kinh đô, chỉ muốn làm tiều phu. Lâu lâu Bá Nha nhớ bạn, hẹn với bạn cùng uống trà, nghe đàn. Bá Nha đã tìm được người tri kỷ. Tình bạn đó lưu truyền cho tới ngày hôm nay với tên của hai người: Bá Nha và Tử Kỳ. Hồi thầy mới mười tám tuổi, thầy đã làm một bài thơ ca tụng tình bạn của Bá Nha, Tử Kỳ. Trên đời của mình mà có một người lắng nghe được mình, hiểu được mình thì mình là người may mắn nhất. Anh chàng ở Cali mới trả lời câu hỏi của mẹ, tại sao má biết không, tại vì người đó hiểu con.

Đời người mà tìm ra được một người hiểu mình, thật là hạnh phúc vô cùng. Con mà hiểu cha, đệ tử mà hiểu thầy cũng làm cho cha, cho thầy hạnh phúc. Người mà hiểu được mình thì mình biết ơn người đó. Cảm ơn em đã hiểu được anh, cảm ơn con đã hiểu được cha, cảm ơn cha đã hiểu được con. Tu tập là làm thế nào để có thể hiểu được người khác. Muốn hiểu thì phải lắng nghe, phải quan sát mới hiểu được. Khi sống với một người có khả năng hiểu mình thì hạnh phúc lắm, vì hiểu là nền tảng của thương. Không hiểu thì không thể nào thương được. Cho nên trong tình yêu đôi lứa phải cẩn thận. Mà tình yêu đôi lứa mình chỉ cần làm vài cái test thì mình biết là người đó hiểu mình hay là không. Nếu người đó không hiểu được mình thì dù người đó có bằng cấp cao, lương tiền lớn, ô tô đẹp, có nhà cửa, bảnh trai, hay là có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, cưới người đó mình cũng sẽ khổ suốt đời, gọi là khổ sai chung thân. Đó là một nhà tù, tình yêu là một nhà tù. Người nào mà khi mình mới nói đã cắt lời, thích khoe khoang cái riêng của họ, không có khả năng hiểu được những khó khăn, khổ đau của người khác, không biết lắng nghe mình, thì chỉ cần vài ba phút là mình có thể nhận ra được. Đừng để bị hấp dẫn bởi bề ngoài, những bóng sắc bên ngoài, địa vị danh lợi, xe hơi, nhà cửa, tiền lương, bằng cấp. Đừng để những cái đó làm mờ mắt mình. Hai mắt mình phải tỉnh táo để thấy rằng người con gái đó hay người con trai đó là một người có thể hiểu được mình và hiểu được mình thì sẽ thương mình, rõ ràng như vậy.

Trong xã hội mới phát triển của chúng ta, một cô gái có thể đánh mất tiết trinh của mình để đánh đổi lấy một chiếc xe gắn máy. Thật là dễ sợ, đạo đức suy đồi đến như thế đó. Tại vì muốn thoát ra khỏi thân phận nghèo khổ, vì muốn có một chiếc xe giống như người khác họ đã đánh mất cái quý giá nhất của đời mình. Chuyện đó đã xảy ra, nó đang xảy ra.

Trong đạo Phật, cái thương đích thực nó được làm bằng cái hiểu, không hiểu thì không có thương. Cha mà nếu không hiểu con thì càng thương con, con càng khổ. Vợ không hiểu chồng càng thương chồng, chồng càng khổ. Hiểu là nền tảng của tình thương. Sống với nhau như thế nào để càng ngày mình càng hiểu được nhiều hơn và người kia càng ngày càng hiểu được mình nhiều hơn. Nếu cái hiểu không lớn lên, thì cái thương nó cũng không lớn lên, nó dẫm chân tại chỗ. Nếu quý vị thấy tình thương của mình đang dẫm chân tại chỗ thì quý vị biết rằng quý vị không tu, bởi cái hiểu không lớn nên cái thương không thể lớn. Khi mà tình thương không lớn thêm thì từ từ nó co rút lại cho đến khi trở thành một cục cứng ngắt. Tình yêu có thể chết nếu mình không biết nuôi dưỡng nó bằng cái hiểu và cái thương. Còn khi người kia hiểu mình thì mình biết ơn người đó, biết ơn suốt đời. Chính cái ơn đó là chất liệu nuôi dưỡng mình và người đó cho đến suốt đời, cái đó là nghĩa. Không phải là cái bồng bột lúc ban đầu, cái tình, không phải là ngọn lửa nuôi dưỡng đâu.

Ở Việt Nam ngày xưa người ta không nấu cơm bằng gas hay là bằng điện mà nấu bằng rơm và rơm cháy rất mau. Có cách để làm cho nó cháy chậm lại,  mình cần một chiếc đủa. Đặt một nắm rơm vô bếp, lấy cái đủa đè xuống thì rơm sẽ cháy từ từ. Ngày xưa miền quê Việt Nam còn dùng trấu. Trấu tức là vỏ hạt lúa. Nhiều nhà không có hộp quẹt nên phải nuôi lửa. Muốn nuôi lửa lâu mình đổ vào bếp một ít trấu. Trấu cháy ngún, cháy lâu. Nó không cháy bùng như rơm mà cháy chầm chậm suốt đêm. Sáng mai mình khơi ra thì còn lửa ở trong đó, gọi là lửa trấu. Lửa rơm thì mau cháy, mau tàn. Đó là ngọn lửa tình. Còn nghĩa là lửa trấu, nó cháy suốt đêm dài.

Ngày xưa Việt Nam còn có truyền thống đi xin lửa, vì không có hộp quẹt và cũng không có đèn dầu. Mỗi khi nấu cơm mình phải qua hàng xóm xin lửa, nếu mà nhà mình không có trấu. Các cháu có thể là chưa thấy con cúi. Con cúi không phải là một sinh vật mà mình vẫn gọi là con.  Người ta lấy rơm bện lại thành ra một con rắn rất chặt và đốt một đầu, đầu kia để tay cầm. Nó cứ cháy ngún từ từ và cháy được nhiều giờ. Mỗi khi cần lửa nấu cơm thì mình tới con cúi lấy lửa. Còn nếu không có con cúi và cũng  không có lửa trấu thì mình phải đi xin thôi.

Thầy có làm một bài thơ về chuyện đi xin lửa. Chuyện đó xảy ra trong quá khứ. Thế hệ của các cháu giờ đây có thể không biết đi xin lửa là cái gì.

Sáng hôm nay hộp diêm của tôi hết rồi.
Buốt lạnh như trời cuối thu buốt lạnh.
Tác phẩm vẫn đang còn đó.
Tôi qua nhà láng giềng xin lửa.
Xin các bạn đưa tay nói thật.
Có phải tất cả chúng ta cuối cùng tin rằng.
Trong xóm ta thế nào cũng có người còn lửa.
Chúng ta hãy tin vào cái điều đó như một người tin vào lời ước của họ.
Tôi biết có những nhà nghèo nhưng lửa hồng ngún cháy ngày đêm trong bếp hồng âm ỉ.
Em hãy nhớ lời tôi căn dặn.
Một nắm rơm đặt vào đợi khói tỏa màu xanh.
Em nhìn xem như một hơi thở nhẹ của hồn tôi thôi cũng muốn gọi về lửa đỏ.

Đi xin lửa thì mình phải biết cầm một nắm rơm. Tới bếp của người ta, mình đừng có quấy động cái bếp vì người ta đang nuôi lửa ở trong đó. Cầm nắm rơm của mình, dúi vào chỗ lửa trấu đang còn cháy và đợi. Chừng hai ba chục giây, mình thấy khói lên tức là biết rằng nắm rơm của mình đã được lửa bén vào rồi. Mình chỉ cần thổi một hơi thở nhẹ là lửa cháy lên rồi lấy một nắm rơm khác nắm lại, đem về thì nó tiếp tục cháy. Quý vị biết rằng ngày xưa xin lửa là chuyện mỗi ngày. Lửa có hai thứ một là lửa rơm hai là lửa trấu. Lửa trấu ngún cháy cả ngày đêm rất lâu. Lửa rơm được ví cho tình yêu, cho tình. Lửa trấu tượng trưng cho nghĩa.

Ân nghĩa là cái tiếp nối của chữ tình. Cái tình bắt đầu cho khéo để từ từ nó đi tới cái nghĩa. Ân nghĩa là chất liệu nuôi dưỡng một cặp vợ chồng cho tới khi đầu bạc và răng long. Nghĩa là sự thực tập về tình yêu, mỗi ngày mình phải làm cho cái tình của mình lớn lên và nó biến thành nghĩa. Mỗi ngày mình phải xây dựng cái ơn và cái nghĩa. Mỗi lời nói mỗi cử chỉ săn sóc đều tạo ra ơn và nghĩa hết. Chính cái đó là keo sơn, nó giúp cho một  cặp vợ chồng sống với nhau suốt đời. Tình bạn cũng vậy, tình bạn thì không có sự cháy bùng, không có sự đam mê như là tình yêu. Cho nên tình bạn nó dễ hơn nhiều. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói rất rõ là tình bạn lâu dài bền chắc, nó nuôi dưỡng mình nhiều hơn tình yêu. Vì vậy bí quyết là mình phải biến tình yêu lúc ban đầu trở thành tình bạn. Hai người ban đầu là hai người yêu nhưng mà từ từ sẽ trở thành hai người bạn. Khi trở thành hai người bạn thì đó là tình yêu đang còn. Còn nếu tình yêu không trở thành tình bạn được thì tình yêu sẽ chết, sẽ không thành công. Mà sở dĩ tình yêu trở thành tình bạn được là vì mình phát khởi được cái ơn và cái nghĩa. Ơn nghĩa đó như đã nói ở trên, nó bắt đầu từ chỗ ý thức được rằng tại sao giữa bao nhiêu người con trai người đó lại chọn mình, nên mình biết ơn người con gái đó. Giữa bao nhiêu người con gái đẹp mà mình chọn một người thôi thì cái đó là bắt đầu từ chọn. Cái chọn này không phải là nhất thời, cái chọn này là phải xãy ra trong một quá trình nào đó với trí tuệ của mình chứ không phải chỉ với đam mê mà thôi. Nếu tình chỉ chỉ có đam mê thì mình sẽ hối hận, phải có trí tuệ và phải biết lắng nghe. Lắng nghe bạn bè, lắng nghe cha mẹ, lắng nghe các em của mình. Tại vì họ cũng có cái thấy mà cái thấy của họ đôi khi khách quan hơn mình. Mình đam mê rồi thì mình không còn thấy được sự thật rõ ràng bằng những người khác.

Xin quý vị giúp dịch chữ nghĩa ra tiếng Pháp, tiếng Anh. Nghĩa đi đôi với chữ ơn: Ơn nghĩa. Khi thương thì ranh giới giữa cá nhân không còn nữa. Hai người trở thành một. Mình không đi tìm cái hạnh phúc riêng của mình. Hạnh phúc phải là hạnh phúc chung. Ở làng Mai mình nói hạnh phúc chưa bao giờ là hạnh phúc của riêng một mình con, đó là bài hát của sư cô Giải Nghiêm. Hạnh phúc hay đau khổ trong tình yêu không còn là vấn đề riêng của một người nữa mà của cả hai người. Đó là yếu tố thứ tư ( từ, bi, hỹ, xả ) của tình yêu trong đạo Phật, tức là không phân biệt tôi khác, anh khác. Hai người là một thôi. Cho nên không có chuyện ông ăn chả bà ăn nem, ông đi tìm thú vui riêng của ông, bà đi tìm thú vui riêng của bà. Cái vui của ông cũng là cái vui của bà.

 Tuần thứ ba trong khóa tu, có một thiền sinh Tây phương hỏi một câu rất đáng thương. Ông nói rằng, con khổ quá đi. Con rủ nhà con đi tới khóa tu, bà không chịu ở, bà cứ đòi con phải đi, bây giờ con phải làm sao. Thay vì nói rằng vì bà chưa thấy được sự cần thiết của tu học thì tôi trả lời rằng tại vì ông mà ra hết. Tại những gì bà thích ông đã không thích. Nếu ông thích và ông yểm trợ bà những gì bà thích thì chắc chắn bà sẽ thích cái ông thích. Sở dĩ bà đòi đi là vì ông không chú trọng tới bà. Ông không để tâm tới, ông không hiểu được bà. Những gì bà yêu mến, bà mong ước, ông không để ý tới. Vì vậy cho nên bà cũng không để ý tới ông. Những thứ ông thích thì bà ghét, những thứ ông ghét thì bà lại thích cho biết tay. Thường thường nó xảy ra như vậy. Vì vậy vấn đề hạnh phúc cũng như khổ đau trong tình yêu chân thật không còn là vấn đề của cá nhân nữa mà là của chung. Chúng ta phải có thì giờ quan tâm.


«Trước   1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16  Sau»

Powered by vnWeblogs