Tìm nhau khắp nẻo luân hồi ,
Gặp nhau thoáng chốc ngỏ lời tri âm .

Giác Tâm

NHỮNG HẠT ĐẬU BIẾT NHẢY

Chung — Viết bởi giactam @ 18:11
 


NHỮNG HẠT ĐẬU BIẾT NHẢY


LÂM THANH HUYỀN

           
Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng có một bà lão sống cô độc, chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng những hạt ngũ cốc. Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp chuộc tội để cầu xin cho tâm hồn được bình yên. Cuối cùng thì bà được một người hành hương tốt bụng truyền cho một câu thần chú của Quán Thế Âm Bồ Tát. Câu thần chú gồm có sáu chữ Án Ma Ni Bát Di Hồng được gọi là Lục Tự Đại Minh Chú, có thể dùng để giải trừ những nghiệp chướng. Tội nghiệp cho bà già thôn dã đã dốt nát lại không biết chữ, trên đường về nhà bà lẩm bẩm cố học thuộc lòng, nhưng đã nhớ lộn cách phát âm trở thành Án Ma Ni Bát Di Xanh.

            Để khích lệ cho việc đọc câu kinh sám hối này bà bày ra hai cái chén, một cái chén không, còn một cái thì để đầy những hạt đậu nành. Mỗi khi đọc xong một câu thần chú, bà nhặt một hạt đậu từ trong chén đầy bỏ sang cái chén không, đến khi cái chén không đã chứa đầy đậu thì bà làm ngược trở lại. Bà lão đã không ngừng nghỉ, thành tâm tụng niệm suốt 30 năm. Lòng thành kính của bà đã ứng hiện cho nên sau này những hạt đậu không còn cần đến bàn tay của bà nhặt lấy, cứ một câu thần chú vừa được phát âm ra thì một hạt đậu tự động nhảy sang cái chén bên cạnh. Bà lão thấy những hạt đậu tự động nhảy nhót, cộng hưởng với âm điệu của câu thần chú thì biết rằng sự tu hành đã đúng đường và giai đoạn sám hối sắp sửa chấm dứt cho nên bà càng phấn khởi tụng niệm hăng say hơn.

            Hôm nọ có một vị cao tăng từ Tây Tạng vân du qua đó, khi đi ngang qua chiếc lều tranh lụp sụp của bà, nhà sư thấy có ánh hào quang tỏa ra rực rỡ. Vị cao tăng này lấy làm kinh ngạc, ông nghĩ rằng bên trong chiếc lều tranh thế nào cũng có một vị chân tu đắc đạo. Ông vội vã ghé vào thăm hỏi. Bà lão lấy làm vui mừng khi thấy vị cao tăng đến thăm, bà quỳ xuống đảnh lễ, mà miệng thì vẫn cứ tiếp tục lẩm bẩm câu thần chú Án Ma Ni Bát Di Xanh. Vị cao tăng lấy làm ngạc nhiên vì không hiểu ánh hào quang rực rỡ mà ông thấy phía bên ngoài phát xuất từ nơi đâu? Ông lần lần hỏi thăm :

            - Chẳng hay nữ thí chủ tu luyện bao nhiêu năm rồi? Ở đây còn có ai khác nữa không?.

            - Thưa ngài, ở đây chỉ có một mình tôi sống cô độc hơn ba mươi năm nay. Bà lão đáp.

          - Thật tội nghiệp, bà ở một mình chắc buồn lắm nhỉ ?

            - Không đâu, tuy chỉ ở một mình nhưng hàng ngày tôi tu hành và tụng kinh sám hối để kiếp sau có thể hưởng được nhiều phúc đức của kiếp này, nhờ vậy mà tôi không cảm thấy buồn khổ. Nhất là từ lúc được một người hảo tâm chỉ cho cách tu luyện thì tôi càng có can đảm để sống hơn.

            - Bà đang tu luyện kinh sách nào vậy ?

            - Ồ, tôi không biết chữ, cho nên chỉ tụng niệm duy nhất một câu thần chú Án Ma Ni Bát Di Xanh.

            Nhà sư thở dài tiếc nuối :

            - Bà lão ơi, bà đã đọc sai câu thần chú đó rồi, phải phát âm là Án Ma Ni Bát Di Hồng mới đúng .

            Đến lúc này thì bà lão mới biết là đã đọc sai câu thần chú hơn ba mươi năm. Bà rất đau buồn vì sự nhầm lẫn trọng đại này, như vậy thì công trình 30 năm tụng niệm coi như xe cát biển đông. Tuy nhiên bà cũng cảm ơn sự cải chính của nhà sư.

            - Dù sao thì ngài cũng đã đính chính kịp lúc, bằng không thì tôi còn tiếp tục sai mà không biết cho đến bao giờ mới điều chỉnh cho đúng được.

            Nhà sư từ giã bà lão để tiếp tục con đường truyền đạo của ông. Bà lão lại tiếp tục công việc tụng niệm của bà mà lần này với câu thần chú mới Án Ma Ni Bát Di Hồng. Thế nhưng tâm tư của bà còn hỗn độn vì sự việc vừa rồi cho nên ý chí của bà không được tập trung. Mỗi câu thần chú của bà đã không còn làm cho những hạt đậu hứng khởi nhảy sang cái chén bên cạnh như lúc trước. Bà lão vừa tụng niệm mà nước mắt cứ tuông rơi, bà thầm tiếc cho công trình tu luyện hơn ba mươi năm như trôi theo dòng nước vì đã đọc sai câu thần chú.

            Nhà sư đi được một đỗi xa, ông ngoái đầu nhìn lại thì thấy căn nhà của bà lão không còn hào quang chói sáng. Bây giờ túp lều tranh hiện hình dột nát mà lại âm u buồn bã. Nhà sư giật mình và nghĩ rằng chính ông đã làm hại người Phật tử này không còn tập trung được tư tưởng như lúc trước. Ông vội vã trở lại túp lều tranh và nói với bà lão rằng :

            - Lúc nảy ta chỉ đùa với bà thôi, câu thần chú của bà tụng mới thật là đúng.

            - Nhưng tại sao sư phụ lại dối gạt tôi như vậy?

            - Ta muốn thử xem lòng thành kính của bà đối với Tam Bảo như thế nào vậy thôi. Từ nay về sau bà cứ tiếp tục tụng niệm y như cũ là phải phép rồi .

            - Cám ơn Phật, vậy mà con cứ tưởng rằng công lao 30 năm tụng niệm đã trôi theo dòng nước, đa tạ sư phụ chỉ bày.

            Sau khi nhà sư ra đi, bà lão lại tiếp tục công việc tụng niệm, mỗi một câu Án Ma Ni Bát Di Xanh được niệm ra thì tâm hồn bà rộn rã tươi vui và một hạt đậu tự động nhảy sang cái chén bên cạnh. Nhà sư đi lên đến đỉnh núi, ông ngoái đầu nhìn trở lại thì thấy hào quang phát ra từ túp lều tranh của bà lão đã làm sáng rực cả một góc trời.

            Trên đây là một câu chuyện đã được lưu truyền rất rộng rãi trong thế giới Phật Giáo, tôi chỉ sửa đổi lại một vài chi tiết nhỏ. Nhớ lại lần đầu tiên khi đọc xong câu chuyện này, tôi rất lấy làm cảm động. Cảm động vì tấm lòng thành kính của bà lão đối với Tam Bảo. Câu chuyện này nói lên rằng âm điệu của thần chú tuy rất quan trọng, thế nhưng lòng thành kính, sự tín ngưỡng, và ý chí chân thành trong lúc niệm thần chú còn quan trọng hơn nhiều.

            Thật ra sáu chữ trong Lục Tự Thần Chú này khó có thể lấy một từ ngữ nào để diễn đạt cho được trọn vẹn ý nghĩa. Miễn cưỡng thì ta có thể hiểu được đại ý là " Cầu xin tự tâm thanh tịnh, liên hoa Phật nở rộ trong lòng". Từ chỗ này chúng ta thấy rằng triết lý nhà Phật luôn cho rằng khi muốn tâm hồn đạt được sự thanh tịnh, tất cả phải do sự tự phát từ đáy lòng của con người mà ra. Khi bà lão tụng Lục Tự Thần Chú, tâm địa của bà trong sạch, quang minh lỗi lạc như bầu trời không vướng bận một áng mây, vì vậy mà cách phát âm đúng hay sai của câu thần chú lúc đó không còn là một yếu tố quan trọng. Dĩ nhiên, đối với những người phàm phu tục tử chúng ta khi mà sự chân thành tôn kính chưa đạt đến một trình độ có thể làm cho những hạt đậu nhảy được thì âm điệu chính xác của thần chú và kinh kệ hãy còn là một quy luật phải được thực thi đúng đắn.

            Hiện nay Lục Tự Thần Chú của Quán Thế Âm Bồ Tát đã trở thành một câu chân ngôn được phổ biến rộng rãi trong thế giới Phật Giáo. Tuy nhiên rất ít người biết được nguồn gốc của câu thần chú này. Nếu như chúng ta biết được rằng Lục Tự Thần Chú đã nở ra từ hàng ngàn mảnh xương sọ của Quán Thế Âm Bồ Tát thì chắc chắn chúng ta sẽ ngạc nhiên và rúng động hơn nữa.

            Quán Thế Âm Bồ Tát là một đệ tử của Đức Phật A Di Đà, ngài đã phát nguyện trước Đức Phật Đà một lời thề vĩ đại : "Tận hết sức lực, thần thông để phổ độ tất cả chúng sinh. Nếu như còn một chúng sinh nào chưa được siêu thoát, đệ tử sẽ quyết không thành chánh quả. Nếu như tất cả chúng sinh chưa siêu thoát mà đệ tử nửa đường bỏ cuộc, thì xương sọ của đệ tử sẽ nứt vỡ thành muôn ngàn mảnh".

            Sau khi lập xong lời trọng thệ, Quán Thế Âm Bồ Tát đã ứng hiện tất cả mọi thần thông, hóa thân thành trăm, ngàn, vạn hình hài cứu độ được vô số chúng sinh. Trải qua vô lượng kiếp luân hồi, chúng sinh được độ đã nhiều như Hằng Hà sa số. Thế nhưng khi nhìn lại thế gian, ngài vẫn thấy hãy còn thiên vạn chúng sinh đang ngụp lặn trong si mê trầm luân, trụy lạc; vẫn hãy còn vô số chúng sinh đang chịu những khổ nạn tai ách; và những chúng sinh đang tạo ác nghiệp cũng đông như cỏ kiến. Từ đó ngài suy diễn ra, nếu cứ tiếp tục luân hồi mãi mãi, thì nỗi đau đớn của chúng sinh sẽ còn tái diễn liên miên, sự việc độ trì chúng sinh do đó sẽ không bao giờ chấm dứt. Nghĩ đến đây, Quán Thế Âm Bồ Tát cảm thấy phiền não. Ngài nghĩ rằng " Cái khổ của chúng sinh là do chúng sinh mà ra. Khi thế gian còn tồn tại thì nỗi khổ của chúng sinh sẽ không bao giờ chấm dứt mà ta thì sẽ không bao giờ độ cho hết được. Lời thề ngày nào là do ta tự làm khổ lấy ta thôi. Nếu như đối với chúng sinh không có ích lợi, thì ta còn kiên trì với lời thề làm chi ?".

            Thương thay, khi ý nghĩ thối lui của Quán Thế Âm Bồ Tát vừa chợt xuất hiện thì lời thề của ngài tức thì phản ứng. Xương sọ của ngài tự nhiên nứt vỡ thành muôn ngàn mảnh, tản mác ra như một đóa hoa sen trăm cánh. Đồng thời Phật A Di Đà cũng từ trong chiếc sọ rạn nứt này hiện thân, ngài nói với Quán Thế Âm Bồ Tát rằng :

            "Thiện tai Quán Thế Âm, lời thề không thể bỏ, nuốt lời là đại tội. Những việc thiện trước đây, đều trôi theo dòng nước. Khuyên ngươi tiếp tục tu, nguyện ước tự nhiên thành. Tam thế cùng thập phương, chư Phật cùng Bồ Tát sẽ hết sức giúp cho, thành công đã đến gần".

            Sau đó Đức Phật A Di Đà đã truyền cho ngài khẩu quyết Lục Tự Thần Chú. Quán Thế Âm Bồ Tát sau khi nghe niệm Lục Tự Chân Ngôn, ngài đạt được đại trí tuệ, sinh đại giác ngộ, và tiếp tục giữ lấy lời thề mà không lùi bước. Chúng ta biết rằng Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Từ Đại Bi, là vị Bồ Tát có thiên thủ thiên nhãn, cứu khổ cứu nạn, linh cảm, linh ứng, năng lực của ngài có được là nhờ vào quyền năng Lục Tự Chân Ngôn của Phật A Di Đà truyền cho. Cũng từ sự tích này mà Lục Tự Chân Ngôn còn được gọi là Quán Thế Âm Tâm Chú.

            Đây là một huyền thoại rất cảm động, não bộ nứt ra trăm ngàn mảnh của Quán Thế Âm Bồ Tát nở thành đóa hoa sen ngàn cánh. Đó chính là sự tượng trưng đẹp đẽ nhất của Lục Tự Chân Ngôn. Trong số chúng sinh chúng ta, có bao nhiêu người nuôi được ý chí hủy hoại thân xác phàm trần hiện hữu thành tro bụi, để nuôi dưỡng cho một đóa hoa sen được ung dung nở trong tim óc mọi người.

            Nhớ lại lần đầu tiên khi nghe xướng Âm Lục Tự Chân Ngôn, thanh Âm trầm hùng, trang nghiêm, đơn thuần, thanh tịnh đó đã khiến cho tôi cảm động rơi nước mắt. Có thể nói rằng trên thế gian không có một thanh âm nào dõng dạc, tràn đầy lực lượng như câu thần chú này. Thật là :

                       
                        Một tấm lòng trong sáng

                        Hoa sen nở rộn ràng,

                        Sen nở vùng đất sạch,                     

                        Trên ngự một Như Lai.

           
             
Chú thích :

            1- Án Ma Ni Bát Di Hồng ( Phát âm theo Phạn Ngữ : OM, MANI PADME, HÙM) : Câu thần chú trên đây đã được phổ biến rộng rãi trong thế giới Phật Giáo, nhất là trong phái Mật Tông vùng Tây Tạng. Người ta luyện câu thần chú này như một phương thức rèn luyện nội công thiền định. Trước hết, tìm một nơi không khí lưu thông, đứng thẳng người, hai tay lật ngữa để ngang bụng, bàn tay trái đặt trên lòng bàn tay phải. Bắt đầu hít vào lồng ngực một hơi thật dài, khi lồng ngực đã chứa đầy dưỡng khí thì mở miệng thở từ từ đồng thời phát ra Âm thanh Án và tưởng tượng như luồng chân khí đang ở đỉnh đầu, kế tiếp theo phát Âm Ma và cố gắng đưa luồng hơi đến mũi. Tiếp theo đến Âm Ni  thì luồng hơi được chuyển xuống đến cổ họng. Tương tự đến Âm Bát thì luồng hơi được đưa đến lồng ngực, Âm Di thì chân khí trong người đã được đưa đến đan điền (bụng), tiếp tục đến Âm Hồng thì luồng hơi được chuyển đến hậu môn và thoát ra bên ngoài cơ thể. Nên nhớ là trong lúc sáu chữ trong câu thần chú này được phát Âm thì luồng hơi của cơ thể đang ở trong trạng thái thở ra. Sau đó, sự tập luyện bắt đầu tái diễn bằng cách hít hơi vào lồng ngực... Với hình thức vừa đọc thần chú vừa vận dụng đưa làn hơi trong người tuần hoàn khắp châu thân rồi thoát ra ngoài cơ thể sẽ khiến cho cơ thể con người được giữ ở một trạng thái sạch sẽ và minh mẫn. Những lúc cơ thể mệt mỏi hoặc tinh thần cảm thấy bồn chồn không được an tâm, quý vị có thể thực hiện như lời chỉ dẫn trên đây để lấy lại được sự bình thản trong tâm hồn.

            2- Tam Bảo : Phật Pháp Tăng gọi chung là Tam Bảo, Phật là đấng giác ngộ hoàn toàn. Pháp là lời của Phật dạy hay còn được ghi chép lại thành kinh điển. Tăng là người tu hành, có nhiệm vụ diễn dịch và giảng dạy những ý nghĩa trong kinh điển cho tín đồ.

            3- Hằng Hà sa số : Hằng Hà là tên một con sông lớn của xứ Phật Ấn Độ. Hạ lưu dòng sông này cũng là nơi Phật Giáo khai sinh và phát triển. Phù sa sông Hằng nhiều vô số kể và đã nuôi dưỡng không biết bao nhiêu dân chúng Ấn Độ. Vì vậy, kinh điển Phật Giáo thường dùng số lượng phù sa của sông Hằng để nói lên cái số nhiều không đếm xuể được.

            4- Hiện thân A Di Đà Phật :  Từ sự tích trên đây, mà bây giờ những hình tượng của Quán Thế Âm Bồ Tát đều đội mão, và chính giữa chiếc mão có một tượng Phật A Di Đà. Đây cũng là cách nhìn vào để phân biệt giữa Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát.

            5- Thập Phương : Từ chữ Thập phương thế giới, thập phương chỉ đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, trên và dưới. Phật giáo chủ trương có thập phương vô số thế giới gọi là Thập phương thế giới. Trong số thế giới đó có chư Phật và chúng sinh nên còn gọi là Thập phương chư Phật và Thập phương chúng sinh.

     

                                 


THƯ CHO BÉ SƠ SINH

Chung — Viết bởi giactam @ 05:27
 




                                       THƯ CHO BÉ SƠ SINH



Khi em cất tiếng khóc chào đời
Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười
Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc
Trong cùng một cảnh ngộ nghe em!

Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu
Nói là để ngừa đau mắt
Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực
Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen.

Khi anh cắt rún cho em
Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé
Vì từ nay em đã phải cô đơn
Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ.

Em là gái là trai anh chẳng quan tâm
Nhưng khi em biết thẹn thùng
Sẽ biết thế nào là nước mắt trong đêm
Khi tình yêu tìm đến!

Anh đã không quên buộc étiquette vào tay em
Em được dán nhãn hiệu từ giây phút ấy
Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn
Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu!

Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh
Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa
Một ngày đã thức giấc với vội vàng với hoang mang
Với những danh từ đao to búa lớn
Để bịp lừa để đổ máu đó em...

Thôi trân trọng chào em
Mời em nhập cuộc
Chúng mình cùng chung
Số phận...
Con người...



(Bài thơ của cậu SV Y khoa Đỗ Hồng Ngọc, viết ở dưới phần bệnh án, sau một ca đỡ mẹ tròn con vuông đầu tiên.  BV Từ Dũ, Saigon 1965)

Nguồn: Phat's blog






Mười Nền Tảng Của Đức Tin Cho Người Học Đạo

Chung — Viết bởi giactam @ 19:07
 




Mười Nền Tảng  Của Đức Tin Cho Người Học Đạo



1.   Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.

2.   Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.

3.   Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên   truyền.

4.   Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong sách vở hay kinh điển.

5.   Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó lý luận siêu hình.

6.   Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với lập trường của mình.

7.  Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.

8.   Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy dược căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.

9.   Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.

10.   Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.


Mà Hãy Tin, Khi Điều Đó Mang Ra Thực Hành, Nó Đem Lại Sự Lợi Ích Cho Cả Hai Mình Và Người Ở Hiện Tại Và Trong Tương Lai.


-----------------------------------------


Mười Điều Tâm Niệm 



Thứ nhất,
nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bịnh khổ,

 vì không bịnh khổ thì dục vọng dễ sinh.

Thứ hai, ở đời đừng cầu không hoạn nạn,

 vì không hoạn nạn thì kiêu xa nổi dậy.

Thứ ba, cứu xét tâm tánh thì đừng cầu không khúc mắc,

vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.

Thứ tư, xây dựng đạo hạnh thì đừng cầu không bị ma chướng,

 vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường.

 Thứ năm, việc làm đừng mong dễ thành,

 vì việc dễ thành thì lòng khinh thường, kiêu ngạo.

Thứ sáu, giao tiếp đừng cầu lợi mình,

 vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.

Thứ bảy, với người thì đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình,

vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng.

 Thứ tám, thi ân thì đừng cầu đền đáp,

 vì cầu đền đáp là thi ân mà có ý mưu đồ.

Thứ chín, thấy lợi thì đừng nhúng vào,

 vì nhúng vào thì si mê phải động.

Thứ mười, oan ức không cần biện bạch,

vì biện bạch là nhân ngã chưa xả.


Bởi vậy Phật dạy:


- Lấy bịnh khổ làm thuốc thần,  

- Lấy hoạn nạn làm giải thoát 
- Lấy khúc mắc làm thú vị 
- Lấy ma quân làm bạn đạo 
- Lấy khó khăn làm thích thú 
- Lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ 
- Lấy người chống đối làm nơi giao du,  
- Coi thi ân như đôi dép bỏ,  
- Lấy sự xả lợi làm vinh hoa 
- Lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh.  
 
Nên chấp nhận trở ngại thì lại thông suốt, mà cầu mong thông suốt thì sẽ bị trở ngại. Thế tôn thực hiện tuệ giác bồ đề ngay trong mọi sự trở ngại. Ương-quật hành hung, Đề-bà quấy phá, mà Ngài giáo hóa cho thành đạo cả. Như vậy há không phải chính sự chống đối lại làm sự thuận lợi, và sự phá hoại lại làm sự tác thành, hay sao? Ngày nay, những người học đạo, trước hết không dấn mình vào trong mọi sự trở ngại, nên khi trở ngại ập đến thì không thể ứng phó. Chánh pháp chí thượng vì vậy mất hết, đáng tiếc đáng hận biết ngần nào?


Luận Bảo Vương Tam Muội





     

                                  


Trên lòng bàn tay

Chung — Viết bởi giactam @ 06:27
 




                    Trên lòng bàn tay

                         
            Tác giả: Lâm Thanh Huyền
                Dịch giả: Phạm Huê



Tương truyền dưới triều nhà Minh, tại phủ Tuyền Châu tỉnh Phúc Kiến có một chàng tú tài tên là Lương Bính Lân là một người tài cao học rộng. Ngoài chữ nghĩa văn chương anh còn có đủ tài về cầm, kỳ, thi, họa, lại thêm khéo tay trong nghề điêu khắc, tạc tượng. Một năm nọ, Lương tú tài lên kinh đô ứng thí. Anh rất hài lòng về những bài làm trong thi trường, vì vậy Lương Sinh mang một tâm trạng hớn hở trở về nhà chờ đợi tin vui.

Khi đi ngang qua phủ Dương Châu, anh vào tá túc qua đêm trong một ngôi cổ miếu. Ðêm hôm ấy, trong giấc mộng, Lương Sinh thấy ba vị tiên Phúc, Lộc, Thọ đến viếng thăm chuyện trò cùng anh. Những vị tiên này còn cùng anh hát xướng rất là vui vẻ. Khi tỉnh giấc điệp, Lương Sinh cảm thấy lòng dạ lâng lâng, anh nghĩ rằng đây có thể là những điềm báo tốt đẹp về bước đường công danh của anh sẽ được rực rỡ sau này. Sáng ngày hôm sau, trước khi rời khỏi ngôi cổ miếu lên đường trở về nhà, anh đứng van vái với trời đất rồi xin một quẻ xâm. Quẻ xâm anh rút được là xâm thượng và có lời lẽ như sau:

Ba đoạn văn chương nhập triều ca,
Trúng được khôi nguyên ấy chẳng xa,
Công danh hiển hách qui chưởng thượng,
Phú quí vinh hoa tại nhãn tiền.

Chưởng thượng nghĩa là trên lòng bàn tay, nếu đoán theo nghĩa xâm thì đường công danh của anh nằm trong lòng bàn tay. Lương Sinh nghĩ rằng lần này chắc chắn sẽ đậu được khôi nguyên, vì chính thần linh đều đến chúc mừng và lời tiên đoán trong quẻ xâm tốt lành như vậy thì còn nghi ngờ gì nữa. Về đến nhà, anh vội vàng mở tiệc linh đình đãi đằng thân thuộc. Nào ngờ khi kết quả của triều đình công bố thì không có tên của Lương Sinh, ngay đến hàng tiến sĩ cũng không có thì còn nói gì đến khôi nguyên. Lương Sinh đâm ra chán nản. Ðiều mà anh cảm thấy thắc mắc là tại sao ngay đến thần linh cũng trêu chọc, đùa cợt anh đến mức độ này.

Từ đỉnh cao hy vọng, tụt xuống hố sâu tuyệt vọng, Lương Sinh không còn luyến tiếc đến công danh nữa. Anh quyết chí từ bỏ con đường khoa bảng, từ đó anh vận dụng sự khéo léo của đôi bàn tay để điêu khắc những tượng gỗ, từ những tượng gỗ này, anh bỗng nảy ra ý định dùng chúng làm trò múa rối. Trước hết anh dùng chỉ xỏ vào tay chân của hình nộm để điều khiển sự hoạt động, sau đó anh soạn cốt truyện, đặt lời ca. Những hình nộm được sáng chế càng lúc càng nhiều, những nhân vật từ văn quan, võ tướng, Thừa Tướng, Trạng Nguyên cho đến tiểu thư, ca kỹ và đầy đủ những hạng người trong xã hội.

Lúc đầu việc làm của anh chỉ là một trò tiêu khiển, sau đó anh mang gánh hát múa rối ra trình diễn cho dân trong làng thưởng thức. Người dân thôn dã ít có những môn giải trí, cho nên sau giờ làm việc đồng áng cực nhọc ban ngày, người ta tụ lại nhà anh để xem hát vào lúc ban đêm. Nhờ cốt truyện được chọn lựa công phu, lời ca tiếng nhạc có ý nghĩa nên trò múa rối của Lương Sinh dần dà trở thành món ăn tinh thần của người dân quê. Nhiều người ham muốn môn nghệ thuật này đã tìm đến thọ giáo, cũng có nhiều người không ngại đường xa ngàn dặm đã đến xem và học hỏi.

Một hôm, Lương Sinh soạn cốt truyện cho một vở tuồng mới mà trong đó nhân vật chánh sau bao năm vất vả, cuối cùng đã thi đỗ Trạng Nguyên cưới được vợ đẹp, trở thành một nhân vật cột trụ của triều đình và sống một đời vinh hoa phú quí. Lương Sinh bỗng sực nhớ lại hai câu trong lá xâm mà anh đã xin được ngày xưa: Công danh hiển hách qui chưởng thượng, Phú quí vinh hoa tại nhãn tiền. Phải chăng lời xâm của thần linh đã tiên đoán có một ngày anh sẽ đạt được công danh hiển hách trên "lòng bàn tay", và sẽ nhìn thấy phú quí vinh hoa ở ngay "trước mắt".

Từ đó, Lương Sinh càng chăm chú hơn nữa trong việc phát huy ngành nghệ thuật múa rối. Sau nhiều năm trau dồi, cải tiến anh đã trở thành một bậc tôn sư. Nghệ thuật múa rối tiếp tục hơn 400 năm và hãy còn lưu truyền lại ở những vùng nông thôn các tỉnh Phúc Kiến, Ðài Loan. Tên tuổi của Lương Bính Lân luôn được người ta nhắc nhở đến như là thánh tổ của một ngành nghệ thuật.

Xưa nay đã có biết bao nhiêu bậc Trạng Nguyên, Tiến Sĩ, Công Hầu, Khanh Tướng, thế nhưng có được bao nhiêu vị mà tên tuổi được người đời sau nhớ đến. Nếu đem ra so sánh thì có lẽ "phú quí vinh hoa nhất thời" của họ không thể nào qua mặt "tên tuổi" anh chàng Lương Bính Lân dù chỉ có "công danh hiển hách trên lòng bàn tay" này.

Trong những gánh hát múa rối, người ta thường thấy có những câu đối liễn với nhiều ngụ ý sâu xa và triết lý như:

"Ngàn dặm đong đưa hai ba bước,
Trăm năm nhúc nhích một đôi giờ"

Trong một rạp hát múa rối bé tí teo thì không gian và thời gian đều bị rút ngắn lại. Khoảng cách muôn ngàn dặm chỉ đi lại trong vòng hai ba bước. Thời gian cả trăm năm cũng chỉ diễn đạt trong một vài phút, một vài giờ.

Hoặc:

"Vào cổng này, Công, Hầu, Khanh, Tướng,
Ra cửa kia, Sĩ, Nông, Công, Thương"

Những bậc Công Hầu Khanh Tướng xưa nay có mấy ai ngồi tại vị suốt trăm năm. Trong cuộc đời của những kẻ làm nên nghiệp cả chắc chắn cũng có những phút giây trôi nổi lên voi xuống chó, kẻ được người thua hôm nay làm vua ngày mai làm giặc kể sao cho xiết.

Hoặc như:

"Trung Hiếu lưỡng toàn tam nghĩa tiết,
Văn võ cao thăng Vạn Lý Hầu"

Lời lẽ trong những câu đối liễn này thật đáng để cho ta ngẫm nghĩ. Tổ sư Lương bính Lân của ngành múa rối, mãi cho đến lúc thành danh mới ngộ ra được cái câu "công danh hiển hách trên lòng bàn tay". Nếu như chúng ta dùng một phương thức qui nạp để nhận định thì sẽ thấy rằng không những chỉ có những hình nộm trong nghệ thuật múa rối, mà ngay đến cuộc sống của con người, chẳng phải đều bị điều khiển bởi chính bàn tay của chúng ta hay sao? Công danh hiển hách có thể nằm trên lòng bàn tay, mà ngay cả một đời lận đận cũng không thể nhảy khỏi số mạng của lòng bàn tay.

Trong gánh hát múa rối, người đứng sau lưng cánh gà điều khiển cốt truyện mới thực sự là nhân vật chánh. Trong tay anh ta chỉ huy lủ khủ hàng chục, hàng trăm hình nộm. Do cái ý niệm trong đầu, anh ta có thể biến hình nộm này thành người hiền lương, hình nộm kia thành kẻ gian ác, tất cả sự sống, cái chết, thành công, thất bại của những hình nộm đều được điều khiển bởi hai bàn tay của anh. Trong khi diễn tuồng, anh ta có đầy đủ quyền lực sinh sát hàng trăm con người vô tri không cử động kia, nhưng đến khi vở tuồng chấm dứt, khách xem tản mát ra về, tất cả những con người gỗ, hình nộm đều đã nằm trong đáy rương, anh ta ngồi xề xuống gánh hàng rong bán lúc giữa khuya húp sùm sụp tô cháo gà thì bạn có thể nhìn thấy ngay chính cuộc đời của anh ta cũng chẳng khác gì một thứ hình nộm bị điều khiển trong chính đôi bàn tay của anh ta.

Ngày xưa lúc còn ở quê nhà, khi xem xong một tuồng hát, tôi thường lang thang trước cổng rạp, trong cõi lòng có một chút gì luyến tiếc hình như không muốn ra về. Mỗi một câu chuyện đều có đoạn kết thúc, mỗi một tuồng hát đều phải đi đến chỗ chung cuộc. Ðôi khi bước ra khỏi rạp hát tôi có cái ảo giác, nghĩ rằng nếu như linh hồn của chúng ta bị rút khỏi thân xác hiện hữu thì con người có khác gì những thằng người gỗ trên sân khấu đâu? Chúng ta đi xem hát mà cảm thấy cõi lòng rung động là vì chúng ta có được một linh hồn bất diệt.

Nếu như chúng ta chân thật hóa kịch bản của những tuồng tích thì sẽ thấy rằng cuộc đời của con người và những nhân vật múa rối không một chút khác biệt. Hằng ngày chúng ta vượt qua bao nhiêu thời gian và không gian cũng chẳng qua là do vấn đề cảm giác. Từ giờ này qua giờ kia không có sự gián đoạn. Từ ban ngày bước vào ban đêm cũng không có sự cắt đứt. Trước khi chúng ta sinh ra trên cõi đời này, thời gian và không gian đã hiện hữu, sau khi chúng ta lìa khỏi thế gian này, thời gian và không gian cũng vẫn còn tiếp tục tồn tại. Khi chúng ta tập trung tinh thần vào cốt truyện thì thấy những hình nộm đã chiếm trọn vẹn không gian của sân khấu, thế nhưng khi ta thờ ơ lãnh đạm với vở tuồng thì những hình nộm kia lại trở thành nhỏ bé đáng thương. Cũng như lúc ta đặt trọng tâm vào cuộc sống hàng ngày ta sẽ thấy bản thân là trung tâm của vũ trụ, nhưng một lúc nào đó khi đứng trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ thì sẽ thấy con người chúng ta mới bé bỏng làm sao.

Vận mệnh của những hình nộm nằm trên lòng bàn tay. Vận mệnh của chúng ta cũng nằm trên lòng bàn tay.

Một điều khác biệt là những hình nộm thì bị kẻ khác điều khiển, còn chúng ta may mắn hơn, có thể dùng đôi tay của mình để sáng tạo một cõi trời đất mới.

Giở đôi bàn tay ra, chắc chắn ta sẽ thấy được những chỉ tay chằng chịt. Tướng mệnh học có thể dự đoán tương lai của con người nhờ lòng bàn tay, những nhà tướng số thì cho biết trên thế gian này không có một bàn tay nào giống bàn tay nào, do đó không có vận mệnh của người nào giống người nào cả. Thế nhưng thế gian mà chúng ta đang ở đã do nhiều bàn tay họp lại xây dựng, những sự sáng tạo vĩ đại trên đời cũng đều do bàn tay con người làm ra.

Có một lần tôi gặp một nhà tu hành, tôi nhờ ông dùng phương cách đơn giản nhất để tóm tắt phương pháp tu luyện của tín đồ Phật giáo. Nhà sư trả lời:

- Chỉ có ba chữ Thân, Khẩu, ý. Mỗi ngày chỉ có thân, khẩu, ý, mỗi ngày hãy tự hỏi ta đã làm gì, ta đã nói gì, và ta đã nghĩ gì? Mỗi tháng cũng thân, khẩu, ý. Mỗi năm cũng thân, khẩu, ý, và cả đời cũng chỉ thân, khẩu, ý. Ðó chính là phương cách tu hành tốt nhất.

Nhiều chuyện nói ra thì thật đơn giản, thế nhưng muốn tuân theo nguyên tắc để làm thì không dễ đâu. Nếu như chúng ta hàng ngày giở đôi bàn tay ra và tự hỏi rằng: "Ðôi tay của ta trước kia đã làm gì? Hiện nay đang làm gì? Tương lai sẽ làm gì?" Ðược như vậy, bạn có thể tưởng tượng rằng trên lòng bàn tay của ta lúc nào cũng là một kịch trường sống động, mà bạn có thể diễn được tấn tuồng và vai trò mà bạn thích.


Phạm Huê






     

                                 


THIỀN SƯ

Chung — Viết bởi giactam @ 14:38
 





THIỀN SƯ


Kính tặng Thầy Thích Giác Tâm



Chân trần bước lạc vườn không
Lưng trời khói tỏa mênh mông chiều về
Thảnh thơi quét lá bồ đề
Mười phương mơ vọng nẻo quê xa vời
Tinh mơ có hạt sương rơi
Tiếng chuông vang động một đời phù du
Ta về khoác áo thiền sư
Đời trong chớp mắt đã như vô thường
Lời kinh kệ bỗng vang lừng
Phất tay áo phủi nợ trần,ta đi...


http://nguyetthuc.vnweblogs.com/


-----------------------------------------------


Lục bát - khói sương


Tặng chị : Nguyệt Thu




Lời châu ngọc, lời gấm thêu

Đưa ta qua cõi nhẹ hều khói sương

Ô hay vạn vật vô thường

Mà trong Tâm cảm con đường yêu thương.




Giác Tâm





     

                                 


Thơ - Lơ ngơ

Chung — Viết bởi giactam @ 16:30
 





Thơ - Lơ ngơ





Này đây chữ nghĩa hơn thua

Này đây khô máu bởi đùa với thơ

Thiên thu sống chết ơ hờ

Nghìn năm lận đận đôi bờ tử sinh .





Giác Tâm






Blogs : Nhân gian vui - buồn

Chung — Viết bởi giactam @ 10:41
 



Blogs : Nhân gian vui - buồn .


Blogs


Lặng lẽ đêm về đăng tải

Mong ai được chút bình an

Đường về Chân Như xa ngái

Có đi, có lúc thanh nhàn

!

Blogs là mộng mơ ảo ảnh

In tuồng sắc sắc không không

Này đây là Tâm là cảnh

Bâng khuâng bóng nguyệt dòng sông

!

Đam mê trong cõi hồng trần

Ai hay không có, có không lẽ nào



Giác Tâm






TÔI Ở BÊN NÀY, TÔI Ở BÊN KIA - 2

Chung — Viết bởi giactam @ 09:31
 

                    
                             TÔI Ở BÊN NÀY, TÔI Ở BÊN KIA - 2


                       

                                            Cao Huy Thuần

    
Chị Luyến thường mượn sách truyện của tôi để đọc. Tôi mua đều các báo văn nghệ, khi nào quên mua thì chị nhắc, có khi tự ý đi mua giúp tôi. Tôi thấy chị thông minh, có ý dạy chị học, nhưng chị lắc đầu lia lịa, nói rằng lúc nhỏ đi học trường làng bị thầy giáo đánh roi đau quá, nên bây giờ sợ tôi khẻ tay lắm, không quét nhà được, không vắt cam cho tôi uống được. Tôi bẻ cây thước thề không bao giờ la chị, chị láy mắt trách:

    - Cậu không la, chỉ ngồi yên lặng hàng giờ, dấu mặt sau quyển sách, thà rằng cứ quất cho tôi nát mông còn hơn.

    Đúng là tôi có phần lơ là với chị vì ngày thi gần đến. Thi cử hồi đó cay chua lắm, ở cấp của tôi có khi chẳng ai lọt sổ. Bà Hường biết tôi học thi, nhắc nhở chị Luyến tránh lên dọn dẹp bàn Phật lúc tôi ngủ trưa. Một hôm, chị đùa nghịch hỏi tôi:

    - Cậu đại đăng khoa xong rồi làm gì nữa?

    Tôi nói:

    - Về Huế thăm gia đình.

    Chị cười khúc khích:

    - Rồi làm gì nữa? Bà nóng ruột lắm rồi đó nghe! Mai mốt bà sẽ nói chuyện với cậu đó.

    Tôi đỏ mặt, bực mình. Cái chuyện đó, tôi không muốn nghe, tôi đang ở trong cái tuổi muốn tìm cho mình một ý nghĩa để sống. Chị Luyến tưởng tôi đỏ mặt vì ngượng, bước thêm bước nữa:

    - Chắc cô Thoa không vắt được nước cam hàng ngày cho cậu đâu! Cô Thoa có quạt được cho cậu như thế này không?

    Chị cầm quạt vừa phe phẩy cho tôi vừa cười trêu chọc:

    - Hay là cậu thưa với bà cho tôi về ở với cậu, tôi ở không lấy tiền công.

    Rồi chị bỏ chạy ra cửa. Tôi nhìn theo, thấy chị đứng giữa cầu thang lấy tay áo lau nước mắt.

    Một tuần sau đó, tôi không thấy chi vào phòng. Chị dọn dẹp phòng tôi những lúc tôi đi học. Về nhà, hoa đã cắm tươm tát, ly nước cam đặt trên bàn, trái cây đầy đĩa. Tò mò, tôi xuống bếp, ra sân sau, thấy chị đang xăn quần làm công nhân trộn xi măng. Chị nói:

    - Có chị thợ bị đau, tôi xin bà cho làm thế vài ngày, khỏi lên nhà trên.

    Dưới nhà là một cái sân rộng chứa đầy cát, xi măng và gạch bông: bà Hường còn là nhà sản xuất gạch bông có tiếng. Trời nóng, chị Luyến bận áo cánh, hai cánh tay chị tròn và trắng hồng, mồ hôi chị lấm tấm trên má, lưng chị ướt đẫm. Chị cắm cúi làm việc, không nói với tôi một lời nào nữa.

    Vài ngày sau, chị lên phòng tôi, ngón tay trỏ của chị bị thương, phải băng bó. Tôi cầm ngón tay của chị, hỏi thăm ngón tay bị thương thế nào để tôi tìm thuốc. Chị rút tay ra không nói, chỉ xin một tờ giấy trắng. Chị cầm cây bút đưa cho tôi, chờ tôi viết cho chị một bức thư vì tay chị đau, viết không được. Chị đọc, tôi viết:

    "Thưa mẹ, con vừa được thư mẹ nhắn con nên ở lại lâu lâu, kẻo về làng lúc này nguy hiểm. Nhưng con ở đây buồn lắm, tủi phận, người ta cao sang danh giá, mình là phận tôi đòi, ban ngày hầu hạ người ta, buổi tối nằm một mình khóc hết nước mắt..."

    Tôi ném bút, hỏi chị tại sao lại viết lách điên khùng như vậy. Chị cúi mặt, nói nhỏ:

    - Tôi buồn... Nếu cậu bảo tôi tự tử, tôi tự tử ngay đây cho cậu coi.

    Rồi chị cầm cây dao gọt cam trên bàn để vào cổ. Tôi tái mặt, giả vờ bông đùa để xóa không khí bi kịch:

    - Nào, để tôi giúp chị tự tử.

    Tôi giật cây dao, đặt vào cổ chị, hỏi:

    - Chị ưng đâm chỗ nào?

    Chị Luyến ngửa cổ ra, mở một hột nút áo: "Chỗ này". Rồi chị mở thêm một hột núi áo nữa: "Chỗ này!". Tay tôi run khi nhìn thấy cổ ngực trắng non của chị. Cái gì đã giúp tôi ngừng lại, tôi không biết. Tôi chỉ biết tay tôi run.

    Tôi bắt đầu sợ bị chị Luyến phân trí. Mượn cớ học thi, tôi rủ một người bạn đến học chung với tôi. Chúng tôi đóng cửa học, bà Hường muốn lên tụng kinh cũng phải gõ cửa xin phép. Tôi chỉ mở cửa một lần cho chị Luyến, vì hôm đó ngày rằm, chị phải sửa soạn bàn Phật. Chị lên tầng trên, rồi chị xuống nói nhỏ với tôi:

    -  Cậu lên đây, tôi chỉ cho xem cái này.

    Tôi lên với chị. Chị nói vào tai:

    - Con mèo nó đẻ con dưới bàn Phật... Ấy ấy, cậu đừng bật đèn, mắt mèo sáng quắc trong bóng tôi, cậu xem kia kìa, bao nhiêu cặp mắt là bấy nhiêu mèo con.

    Tôi nhìn trong bóng tối, chưa thấy mắt mèo, chỉ nghe hơi thở ấm của chị ngay sau cổ và hơi nóng mềm mại của chị chảy trên lưng. Tôi bật đèn, tìm mèo trong sáng dễ hơn trong tối.

    May quá, trí tôi chưa bị phân chia, và tôi thi đỗ. Không có gì vui hơn trong cuộc đời sĩ tử xa nhà của tôi bằng khi thi xong, trở về Huế. Nỗi vui sắp gặp lại gia đình đang chờ tôi làm tôi quên đứt nỗi buồn của những người sắp tiễn tôi. Bữa cơm tối cuối cùng trước ngày đi, bà Hường chỉ ăn một chén. Chị Tư dặn tôi đừng ở Huế lâu quá. Chị Luyến không nói gì, chỉ ép tôi ăn thêm một chén chè hạt sen. Tôi làm vui lòng chị dễ dàng.

    Khi vào giường, tôi bâng khuâng với những tình cảm quá quý báu mà tôi đã nhận, nhưng giấc ngủ đến nhanh quá, tôi ngủ say. Bỗng có cái gì làm tôi thức giấc, có cái gì động vào người tôi. Mơ màng trong giấc ngủ, tôi tưởng là con chó chui vào màn, tôi xua tay đẩy nó ra, toan ngủ tiếp, nhưng bỗng giật mình nghe có ai nói khẻ bên tai: "suỵt! suỵt!". Tôi tỉnh hẳn, và trong một động tác tự nhiên, tôi xoay người lại, chưa rõ để làm gì, nhưng chắc chắn không phải để xua đuổi, từ khước. Vừa đúng lúc đó, ngay chính lúc đó, có tiếng ho ở phòng bên kia và tiếng bà Hương gọi chị Luyến: "Luyến, Luyến" Chị Luyến bấu vào vai tôi bảo im. Tiếng bà Hường gọi to hơn, dồn dập: "Luyến, con Luyến đâu rồi? Luyến!". Có tiếng chân tìm dép và tiếng dép lê đến cửa sắt. Chị Luyến vùng dạy, chui ra khỏi màn. Bên kia, đèn bật sáng, và tiếng chân bà Hường bước qua cửa sắt rồi dừng lại trước cửa phòng tôi. Tôi ra khỏi giường, bật đèn. Bà Hường không thèm nhìn tôi, nói vọng vào phòng:

    - Luyến! Qua đây tao biểu!

    Tôi không nghe tiếng chị Luyến trả lời từ trong một góc nào của phòng tôi, cũng không nghe tiếng chị từ trên bàn Phật, mà lại nghe chị nói "dạ con đây" từ giữa cầu thang. Chị bước lên cầu thang, đi thẳng vào phòng bà Hường. Chị xuống nhà bằng lối nào vậy? Chẳng lẽ chị phi thân nhảy từ tầng thứ ba xuống sân gạch hoa? Chưa bao giờ thấy bà Hường nhếnh mép cười gắn với ai như thế. Bà nhếch mép cười gắn với tôi, khinh bỉ:

    - Tôi không ngờ, thật tôi không ngờ... Tôi lầm!

    Rồi bà quay lưng.

    Tôi nằm đợi sáng. Khi nghe tiếng xích lô máy nổ rộn ngoài đường, tôi bận quần áo, xách hành lý xuống nhà, đánh thức anh Bảy, nhờ anh mở cửa. Anh Bảy hốt hoảng:  "Cậu đi đâu vậy? Chị Tư! Chị Tư!". Chị Tư chạy ra giật hành lý của tôi, tôi giật lại, chị chẳng hiểu... giáp gì, chạy lên thang gác. Tôi mở cửa, chạy vội ra đường, chận chiếc xích lô máy đang chạy đến. Cả nhà chạy theo, bà Hường chạy trước hết, tóc sổ tung, dép chỉ còn một chiếc. Bà toan giật lui xắc vai của tôi, nhưng chiếc xích lô đã rồ máy chạy vút. Tôi hả dạ, như vừa khạc ra được một uất khí. Buổi sáng, gió thổi mát rượi.

    Tuổi trẻ dễ quên. Về đến Huế là chuyện Sài Gòn đã thành xa lắc. Chị Luyến có gởi cho tôi một thư xin lỗi, nói rằng chị sẽ hối hận suốt đời vì làm tan vỡ tình cảm của tôi và dự tính tương lai của nhiều người khác. Ở Huế không thiếu gì người đẹp, tôi quên chị luôn. Tôi chỉ còn giận bà Hường, vết thương tự ái còn sâu. Sau khi tôi phòng xích lô rời khỏi nhà, bà Hường sai anh Bảy lái xe đi tìm tôi ở nhà một người bạn thân của tôi. Quả nhiên tôi vừa đến đây, nhưng tôi từ chối không tiếp anh Bảy. Hận của tôi bốc ngút mây, giá lúc đó bà Hường dâng cả Thái Bình Dương cho tôi chắc cũng không đủ nước để rửa hết hận. Ở Huế, tôi nghĩ thế nào bà cũng viết thư cho tôi, hoặc nhờ chú tôi nhắn với tôi vài lời. Bức thư tưởng tượng kia không bao giờ đến. Tôi không nghĩ đến bà nữa để quên. Rồi tôi đi Pháp. Chú tôi đến tiễn tôi rất trễ, suýt nữa thì không gặp tôi ở sân bay. Chú kéo tay tôi nói nhỏ: "Con Điệp biết tao đi tiễn mày, đòi đi theo. Nó đứng đàng kia, mày đến chào nó một câu".

    Tôi tưởng quên, nhưng làm sao quên được! Chị Luyến luôn luôn hiện ra trong tôi, tinh nghịch hỏi đùa: chuyện gì sẽ xảy ra tối hôm đó nếu bà Hường không tình cờ thức giấc lúc tôi vừa xoay người lại về phía chị? Tôi tin là chị Luyến nghĩ tôi trong trắng. Trước mắt chị, tôi chưa bao giờ dính một hạt bụi dơ. Nhưng chị Luyến sẽ nghĩ thế nào về tôi nếu chị biết rằng tay tôi đã bắt đầu quờ quạng về phía có tiếng "suỵt suỵt"? Một chút hiểu biết như vậy, một chút xíu thôi, sẽ làm đảo lộn tất cả giá trị đạo đức giữa chị với tôi, giữa tôi với bà Hường. Có thể hình ảnh thánh thiện của tôi nơi mắt chị sẽ bị nhòe đi. Cũng có thể chị sẽ sung sướng tột độ khi biết tình của mình trao đi có dấu hiệu truy nhận nơi người khác. Nhưng dù thế nào đi nữa, chị sẽ không thể bảo vệ sự trong trắng của tôi một cách cả quyết, dứt khoát như chị đã làm trước mắt bà Hường. Và bà Hường, chỉ cần một chút xíu nghi ngờ thôi, là đã có thể đắc thắng ném tôi xuống vũng bùn tội lỗi không ân hận. Biết đâu bà sẽ còn nghĩ rằng cánh cửa sắt của bà đã được khe khẽ mở ra như vậy không phải chỉ lần đầu. Biết đâu bà sẽ cười gằn, nghĩ mình đã quá ngây thơ trước một chuỗi lừa gạt tinh xảo.

    Nếu tôi gặp lại chị Luyến, tôi sẽ nói với chị như thế nào đây về tôi? Giữ mãi hình ảnh con bồ câu trắng bay trong mắt xanh của chị? Hay căng một sợi tơ, đố chị tôi đang ở bên này hay đang ở bên kia? Tôi chưa là thô, chị có biết tôi đã biết thanh? Tay tôi chưa chạm phải tà, chị có biết ý tôi đã hết chánh? Chị làm sao biết được tôi ở bên nào sợi tơ? Ai biết được tôi mà phán đoán đạo đức? Tôi biết được ai mà khen với chê? Có lẽ tôi sẽ đề nghị với chị Luyến hãy thả cho sợi tơ bay lên mây để ý niệm biên giới cùng tan biến mất. Có người thứ hai nào dám nói thấy tôi ở đâu? Còn tôi, tôi thấy, nhưng tôi lại không thấy tôi ở trên một biên giới. Tôi thấy tôi đi từ từ trên chiếc áo cánh đẫm vào ngấn cổ trắng của chị, đi từ từ trên hơi nóng mềm của ngực chị ấp sát lưng tôi, và tôi thấy tôi đi từ từ trước đó nữa, trong tiếng cười reo vui của chị như tiếng chim chiền chiện lanh lảnh giữa ruộng lúa, và trước đó nữa, trước đó nữa...

    Hai chục năm sau tôi mới có dịp ghé qua ngôi nhà cũ. Hãng gạch bông chẳng còn, nhà cửa trong xóm thay đổi nhiều quá, tôi tần ngần mãi trước ngõ mà cứ tưởng lầm nhà, toan bỏ đi. Chợt  thấy có cháu gái trong nhà đi ra, tôi lần la hỏi chuyện thì biết bà Hường đã mất rồi, mất đã mười năm. Tôi lặng người, xin phép vào thắp hương cho bà. Tôi vào nhà, tầng dưới bừa bãi, xơ xác, nhưng phòng cũ của tôi và bàn thờ Phật vẫn tươm tất, xinh xắn. Tôi mở cửa sổ tầng thứ ba, nhìn xuống sân, thấy cao hun hút. Bằng cách nào chị Luyến đã nhảy từ đấy xuống sân rồi làm bộ thản nhiên đi từ bếp vào cầu thang "dạ con đây" với bà Hường? Chắc chị đã nhảy vừa xuống đụn cát ở ven tường.

    Trở vào bàn thờ, tôi thấy ảnh bà Hường đang nhìn tôi. Đó là bức ảnh mà trước đây bà treo trong phòng ăn và tôi rất thích, vì bà đẹp. Tóc bà vấn trần, mặt trái soan, miệng không cười mà vẫn tươi, dáng nghiêm trang mà đằm thắm. Và mắt bà, sao mà sáng thế, đang nhìn tôi như thấy rõ tận đáy lòng. Tôi nhìn lại mắt bà, bỗng nhớ đến anh Bảy mà bà đã sai đến tìm tôi tại nhà bạn tôi. Bà đã hạ mình đến thế, sao tôi cứ mãi làm cao? Làm cao gì về một đắc thắng  mà giá trị hoàn toàn dựa trên chút may mắn tình cờ? Dựa trên một tiếng ho? Giả sử tiếng ho đó đến chậm nửa  phút, bà Hường đã thấy gì nơi tôi khi bước vào phòng tôi? Một thiên thần bỗng hóa ra quỷ sứ.

    Tôi đang miên man trong kỷ niệm, bỗng chợt thấy bức tượng nhỏ bằng gỗ mít ngày xưa. Buổi sáng hôm đó, trong lúc hấp tấp xách hành lý xuống nhà, tôi đã để quên tượng Phật trên bàn học. Tôi bồi hồi nhớ lại chuyện linh thiêng đã xảy ra đến cho bà Hường. "Một tích tắc thôi, giữa chết với sống chỉ một tích tắc thôi". Tôi nhớ lại đêm cuối cùng tôi ngủ trong phòng. Tôi sửa soạn hành lý đã xong, toan gói tượng Phật cất vào va ly, nhưng sợ mất thành kính, tôi đặt tượng giữa bàn, cạnh bình hoa vừa cúng rằm, định bụng khi nào đi mới gói tượng mang theo. Chẳng lẽ chuyện linh thiêng đã xảy đến với tôi đêm hôm đó? Một tích tắc thôi, giữa lành và dữ chỉ một tích tắc thôi?

    Không, tôi không nghĩ như vậy. Có thể tối đó bà Hường bỗng cảm thấy thiếu hơi người bên cạnh giường nên chợt thức dậy. Có thể chị Luyến đi nhẹ nhẹ, mở cửa sắt rất khẽ, nhưng một tiếng động nhỏ cũng đủ làm rung động một giấc ngủ đã chập chờn. Giữa bà Hường với tôi, tôi có thể vỗ ngực nói với bà rằng tôi vẫn đứng ở bên kia bờ tích tắc, bên kia sợi tơ. Nhưng giữa tượng Phật với tôi, giữa tôi với tôi, tôi đã bước qua bên này bờ từ lâu. Ý của tôi, tôi biết, Phật biết. Chị Luyến không có gì để xin lỗi tôi, tình cảm và hành động của chị trong sáng. Người không trong sáng với chị, với bà Hường, với tôi, là tôi. Có một chút gì giả dối nơi tôi khi tôi giả vờ với chính tôi, khi tôi tránh né không soi ánh sáng của lương tri đến tận biên giới của ý thức.

    Tôi quỳ xuống trước tượng, mơ hồ nghĩ đến mấy chữ "thân, miệng, ý" trong một bài kinh. Cháu gái bên cạnh kính cẩn nói nhỏ: "Dạ thưa, dưới tượng có mấy chữ". Tôi nâng tượng lên, thấy có dòng chữ viết, đúng là nét chữ của bà Hường; "Tượng này là của cậu Văn. Khi nào cậu đến chơi thì trao lại cho cậu".

    Tôi bàng hoàng bước xuống cầu thang, từ giã cháu gái, quên hỏi cháu là con ai, con của cô Thoa hay biết đâu là con của chị Luyến.






     

                                 


«Trước   1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16  Sau»

Powered by vnWeblogs