Cao Huy Thuần Chị Luyến thường mượn sách truyện của tôi để đọc. Tôi mua đều các báo văn nghệ, khi nào quên mua thì chị nhắc, có khi tự ý đi mua giúp tôi. Tôi thấy chị thông minh, có ý dạy chị học, nhưng chị lắc đầu lia lịa, nói rằng lúc nhỏ đi học trường làng bị thầy giáo đánh roi đau quá, nên bây giờ sợ tôi khẻ tay lắm, không quét nhà được, không vắt cam cho tôi uống được. Tôi bẻ cây thước thề không bao giờ la chị, chị láy mắt trách: - Cậu không la, chỉ ngồi yên lặng hàng giờ, dấu mặt sau quyển sách, thà rằng cứ quất cho tôi nát mông còn hơn. Đúng là tôi có phần lơ là với chị vì ngày thi gần đến. Thi cử hồi đó cay chua lắm, ở cấp của tôi có khi chẳng ai lọt sổ. Bà Hường biết tôi học thi, nhắc nhở chị Luyến tránh lên dọn dẹp bàn Phật lúc tôi ngủ trưa. Một hôm, chị đùa nghịch hỏi tôi: - Cậu đại đăng khoa xong rồi làm gì nữa? Tôi nói: - Về Huế thăm gia đình. Chị cười khúc khích: - Rồi làm gì nữa? Bà nóng ruột lắm rồi đó nghe! Mai mốt bà sẽ nói chuyện với cậu đó. Tôi đỏ mặt, bực mình. Cái chuyện đó, tôi không muốn nghe, tôi đang ở trong cái tuổi muốn tìm cho mình một ý nghĩa để sống. Chị Luyến tưởng tôi đỏ mặt vì ngượng, bước thêm bước nữa: - Chắc cô Thoa không vắt được nước cam hàng ngày cho cậu đâu! Cô Thoa có quạt được cho cậu như thế này không? Chị cầm quạt vừa phe phẩy cho tôi vừa cười trêu chọc: - Hay là cậu thưa với bà cho tôi về ở với cậu, tôi ở không lấy tiền công. Rồi chị bỏ chạy ra cửa. Tôi nhìn theo, thấy chị đứng giữa cầu thang lấy tay áo lau nước mắt. Một tuần sau đó, tôi không thấy chi vào phòng. Chị dọn dẹp phòng tôi những lúc tôi đi học. Về nhà, hoa đã cắm tươm tát, ly nước cam đặt trên bàn, trái cây đầy đĩa. Tò mò, tôi xuống bếp, ra sân sau, thấy chị đang xăn quần làm công nhân trộn xi măng. Chị nói: - Có chị thợ bị đau, tôi xin bà cho làm thế vài ngày, khỏi lên nhà trên. Dưới nhà là một cái sân rộng chứa đầy cát, xi măng và gạch bông: bà Hường còn là nhà sản xuất gạch bông có tiếng. Trời nóng, chị Luyến bận áo cánh, hai cánh tay chị tròn và trắng hồng, mồ hôi chị lấm tấm trên má, lưng chị ướt đẫm. Chị cắm cúi làm việc, không nói với tôi một lời nào nữa. Vài ngày sau, chị lên phòng tôi, ngón tay trỏ của chị bị thương, phải băng bó. Tôi cầm ngón tay của chị, hỏi thăm ngón tay bị thương thế nào để tôi tìm thuốc. Chị rút tay ra không nói, chỉ xin một tờ giấy trắng. Chị cầm cây bút đưa cho tôi, chờ tôi viết cho chị một bức thư vì tay chị đau, viết không được. Chị đọc, tôi viết: "Thưa mẹ, con vừa được thư mẹ nhắn con nên ở lại lâu lâu, kẻo về làng lúc này nguy hiểm. Nhưng con ở đây buồn lắm, tủi phận, người ta cao sang danh giá, mình là phận tôi đòi, ban ngày hầu hạ người ta, buổi tối nằm một mình khóc hết nước mắt..." Tôi ném bút, hỏi chị tại sao lại viết lách điên khùng như vậy. Chị cúi mặt, nói nhỏ: - Tôi buồn... Nếu cậu bảo tôi tự tử, tôi tự tử ngay đây cho cậu coi. Rồi chị cầm cây dao gọt cam trên bàn để vào cổ. Tôi tái mặt, giả vờ bông đùa để xóa không khí bi kịch: - Nào, để tôi giúp chị tự tử. Tôi giật cây dao, đặt vào cổ chị, hỏi: - Chị ưng đâm chỗ nào? Chị Luyến ngửa cổ ra, mở một hột nút áo: "Chỗ này". Rồi chị mở thêm một hột núi áo nữa: "Chỗ này!". Tay tôi run khi nhìn thấy cổ ngực trắng non của chị. Cái gì đã giúp tôi ngừng lại, tôi không biết. Tôi chỉ biết tay tôi run. Tôi bắt đầu sợ bị chị Luyến phân trí. Mượn cớ học thi, tôi rủ một người bạn đến học chung với tôi. Chúng tôi đóng cửa học, bà Hường muốn lên tụng kinh cũng phải gõ cửa xin phép. Tôi chỉ mở cửa một lần cho chị Luyến, vì hôm đó ngày rằm, chị phải sửa soạn bàn Phật. Chị lên tầng trên, rồi chị xuống nói nhỏ với tôi: - Cậu lên đây, tôi chỉ cho xem cái này. Tôi lên với chị. Chị nói vào tai: - Con mèo nó đẻ con dưới bàn Phật... Ấy ấy, cậu đừng bật đèn, mắt mèo sáng quắc trong bóng tôi, cậu xem kia kìa, bao nhiêu cặp mắt là bấy nhiêu mèo con. Tôi nhìn trong bóng tối, chưa thấy mắt mèo, chỉ nghe hơi thở ấm của chị ngay sau cổ và hơi nóng mềm mại của chị chảy trên lưng. Tôi bật đèn, tìm mèo trong sáng dễ hơn trong tối. May quá, trí tôi chưa bị phân chia, và tôi thi đỗ. Không có gì vui hơn trong cuộc đời sĩ tử xa nhà của tôi bằng khi thi xong, trở về Huế. Nỗi vui sắp gặp lại gia đình đang chờ tôi làm tôi quên đứt nỗi buồn của những người sắp tiễn tôi. Bữa cơm tối cuối cùng trước ngày đi, bà Hường chỉ ăn một chén. Chị Tư dặn tôi đừng ở Huế lâu quá. Chị Luyến không nói gì, chỉ ép tôi ăn thêm một chén chè hạt sen. Tôi làm vui lòng chị dễ dàng. Khi vào giường, tôi bâng khuâng với những tình cảm quá quý báu mà tôi đã nhận, nhưng giấc ngủ đến nhanh quá, tôi ngủ say. Bỗng có cái gì làm tôi thức giấc, có cái gì động vào người tôi. Mơ màng trong giấc ngủ, tôi tưởng là con chó chui vào màn, tôi xua tay đẩy nó ra, toan ngủ tiếp, nhưng bỗng giật mình nghe có ai nói khẻ bên tai: "suỵt! suỵt!". Tôi tỉnh hẳn, và trong một động tác tự nhiên, tôi xoay người lại, chưa rõ để làm gì, nhưng chắc chắn không phải để xua đuổi, từ khước. Vừa đúng lúc đó, ngay chính lúc đó, có tiếng ho ở phòng bên kia và tiếng bà Hương gọi chị Luyến: "Luyến, Luyến" Chị Luyến bấu vào vai tôi bảo im. Tiếng bà Hường gọi to hơn, dồn dập: "Luyến, con Luyến đâu rồi? Luyến!". Có tiếng chân tìm dép và tiếng dép lê đến cửa sắt. Chị Luyến vùng dạy, chui ra khỏi màn. Bên kia, đèn bật sáng, và tiếng chân bà Hường bước qua cửa sắt rồi dừng lại trước cửa phòng tôi. Tôi ra khỏi giường, bật đèn. Bà Hường không thèm nhìn tôi, nói vọng vào phòng: - Luyến! Qua đây tao biểu! Tôi không nghe tiếng chị Luyến trả lời từ trong một góc nào của phòng tôi, cũng không nghe tiếng chị từ trên bàn Phật, mà lại nghe chị nói "dạ con đây" từ giữa cầu thang. Chị bước lên cầu thang, đi thẳng vào phòng bà Hường. Chị xuống nhà bằng lối nào vậy? Chẳng lẽ chị phi thân nhảy từ tầng thứ ba xuống sân gạch hoa? Chưa bao giờ thấy bà Hường nhếnh mép cười gắn với ai như thế. Bà nhếch mép cười gắn với tôi, khinh bỉ: - Tôi không ngờ, thật tôi không ngờ... Tôi lầm! Rồi bà quay lưng. Tôi nằm đợi sáng. Khi nghe tiếng xích lô máy nổ rộn ngoài đường, tôi bận quần áo, xách hành lý xuống nhà, đánh thức anh Bảy, nhờ anh mở cửa. Anh Bảy hốt hoảng: "Cậu đi đâu vậy? Chị Tư! Chị Tư!". Chị Tư chạy ra giật hành lý của tôi, tôi giật lại, chị chẳng hiểu... giáp gì, chạy lên thang gác. Tôi mở cửa, chạy vội ra đường, chận chiếc xích lô máy đang chạy đến. Cả nhà chạy theo, bà Hường chạy trước hết, tóc sổ tung, dép chỉ còn một chiếc. Bà toan giật lui xắc vai của tôi, nhưng chiếc xích lô đã rồ máy chạy vút. Tôi hả dạ, như vừa khạc ra được một uất khí. Buổi sáng, gió thổi mát rượi. Tuổi trẻ dễ quên. Về đến Huế là chuyện Sài Gòn đã thành xa lắc. Chị Luyến có gởi cho tôi một thư xin lỗi, nói rằng chị sẽ hối hận suốt đời vì làm tan vỡ tình cảm của tôi và dự tính tương lai của nhiều người khác. Ở Huế không thiếu gì người đẹp, tôi quên chị luôn. Tôi chỉ còn giận bà Hường, vết thương tự ái còn sâu. Sau khi tôi phòng xích lô rời khỏi nhà, bà Hường sai anh Bảy lái xe đi tìm tôi ở nhà một người bạn thân của tôi. Quả nhiên tôi vừa đến đây, nhưng tôi từ chối không tiếp anh Bảy. Hận của tôi bốc ngút mây, giá lúc đó bà Hường dâng cả Thái Bình Dương cho tôi chắc cũng không đủ nước để rửa hết hận. Ở Huế, tôi nghĩ thế nào bà cũng viết thư cho tôi, hoặc nhờ chú tôi nhắn với tôi vài lời. Bức thư tưởng tượng kia không bao giờ đến. Tôi không nghĩ đến bà nữa để quên. Rồi tôi đi Pháp. Chú tôi đến tiễn tôi rất trễ, suýt nữa thì không gặp tôi ở sân bay. Chú kéo tay tôi nói nhỏ: "Con Điệp biết tao đi tiễn mày, đòi đi theo. Nó đứng đàng kia, mày đến chào nó một câu". Tôi tưởng quên, nhưng làm sao quên được! Chị Luyến luôn luôn hiện ra trong tôi, tinh nghịch hỏi đùa: chuyện gì sẽ xảy ra tối hôm đó nếu bà Hường không tình cờ thức giấc lúc tôi vừa xoay người lại về phía chị? Tôi tin là chị Luyến nghĩ tôi trong trắng. Trước mắt chị, tôi chưa bao giờ dính một hạt bụi dơ. Nhưng chị Luyến sẽ nghĩ thế nào về tôi nếu chị biết rằng tay tôi đã bắt đầu quờ quạng về phía có tiếng "suỵt suỵt"? Một chút hiểu biết như vậy, một chút xíu thôi, sẽ làm đảo lộn tất cả giá trị đạo đức giữa chị với tôi, giữa tôi với bà Hường. Có thể hình ảnh thánh thiện của tôi nơi mắt chị sẽ bị nhòe đi. Cũng có thể chị sẽ sung sướng tột độ khi biết tình của mình trao đi có dấu hiệu truy nhận nơi người khác. Nhưng dù thế nào đi nữa, chị sẽ không thể bảo vệ sự trong trắng của tôi một cách cả quyết, dứt khoát như chị đã làm trước mắt bà Hường. Và bà Hường, chỉ cần một chút xíu nghi ngờ thôi, là đã có thể đắc thắng ném tôi xuống vũng bùn tội lỗi không ân hận. Biết đâu bà sẽ còn nghĩ rằng cánh cửa sắt của bà đã được khe khẽ mở ra như vậy không phải chỉ lần đầu. Biết đâu bà sẽ cười gằn, nghĩ mình đã quá ngây thơ trước một chuỗi lừa gạt tinh xảo. Nếu tôi gặp lại chị Luyến, tôi sẽ nói với chị như thế nào đây về tôi? Giữ mãi hình ảnh con bồ câu trắng bay trong mắt xanh của chị? Hay căng một sợi tơ, đố chị tôi đang ở bên này hay đang ở bên kia? Tôi chưa là thô, chị có biết tôi đã biết thanh? Tay tôi chưa chạm phải tà, chị có biết ý tôi đã hết chánh? Chị làm sao biết được tôi ở bên nào sợi tơ? Ai biết được tôi mà phán đoán đạo đức? Tôi biết được ai mà khen với chê? Có lẽ tôi sẽ đề nghị với chị Luyến hãy thả cho sợi tơ bay lên mây để ý niệm biên giới cùng tan biến mất. Có người thứ hai nào dám nói thấy tôi ở đâu? Còn tôi, tôi thấy, nhưng tôi lại không thấy tôi ở trên một biên giới. Tôi thấy tôi đi từ từ trên chiếc áo cánh đẫm vào ngấn cổ trắng của chị, đi từ từ trên hơi nóng mềm của ngực chị ấp sát lưng tôi, và tôi thấy tôi đi từ từ trước đó nữa, trong tiếng cười reo vui của chị như tiếng chim chiền chiện lanh lảnh giữa ruộng lúa, và trước đó nữa, trước đó nữa... Hai chục năm sau tôi mới có dịp ghé qua ngôi nhà cũ. Hãng gạch bông chẳng còn, nhà cửa trong xóm thay đổi nhiều quá, tôi tần ngần mãi trước ngõ mà cứ tưởng lầm nhà, toan bỏ đi. Chợt thấy có cháu gái trong nhà đi ra, tôi lần la hỏi chuyện thì biết bà Hường đã mất rồi, mất đã mười năm. Tôi lặng người, xin phép vào thắp hương cho bà. Tôi vào nhà, tầng dưới bừa bãi, xơ xác, nhưng phòng cũ của tôi và bàn thờ Phật vẫn tươm tất, xinh xắn. Tôi mở cửa sổ tầng thứ ba, nhìn xuống sân, thấy cao hun hút. Bằng cách nào chị Luyến đã nhảy từ đấy xuống sân rồi làm bộ thản nhiên đi từ bếp vào cầu thang "dạ con đây" với bà Hường? Chắc chị đã nhảy vừa xuống đụn cát ở ven tường. Trở vào bàn thờ, tôi thấy ảnh bà Hường đang nhìn tôi. Đó là bức ảnh mà trước đây bà treo trong phòng ăn và tôi rất thích, vì bà đẹp. Tóc bà vấn trần, mặt trái soan, miệng không cười mà vẫn tươi, dáng nghiêm trang mà đằm thắm. Và mắt bà, sao mà sáng thế, đang nhìn tôi như thấy rõ tận đáy lòng. Tôi nhìn lại mắt bà, bỗng nhớ đến anh Bảy mà bà đã sai đến tìm tôi tại nhà bạn tôi. Bà đã hạ mình đến thế, sao tôi cứ mãi làm cao? Làm cao gì về một đắc thắng mà giá trị hoàn toàn dựa trên chút may mắn tình cờ? Dựa trên một tiếng ho? Giả sử tiếng ho đó đến chậm nửa phút, bà Hường đã thấy gì nơi tôi khi bước vào phòng tôi? Một thiên thần bỗng hóa ra quỷ sứ. Tôi đang miên man trong kỷ niệm, bỗng chợt thấy bức tượng nhỏ bằng gỗ mít ngày xưa. Buổi sáng hôm đó, trong lúc hấp tấp xách hành lý xuống nhà, tôi đã để quên tượng Phật trên bàn học. Tôi bồi hồi nhớ lại chuyện linh thiêng đã xảy ra đến cho bà Hường. "Một tích tắc thôi, giữa chết với sống chỉ một tích tắc thôi". Tôi nhớ lại đêm cuối cùng tôi ngủ trong phòng. Tôi sửa soạn hành lý đã xong, toan gói tượng Phật cất vào va ly, nhưng sợ mất thành kính, tôi đặt tượng giữa bàn, cạnh bình hoa vừa cúng rằm, định bụng khi nào đi mới gói tượng mang theo. Chẳng lẽ chuyện linh thiêng đã xảy đến với tôi đêm hôm đó? Một tích tắc thôi, giữa lành và dữ chỉ một tích tắc thôi? Không, tôi không nghĩ như vậy. Có thể tối đó bà Hường bỗng cảm thấy thiếu hơi người bên cạnh giường nên chợt thức dậy. Có thể chị Luyến đi nhẹ nhẹ, mở cửa sắt rất khẽ, nhưng một tiếng động nhỏ cũng đủ làm rung động một giấc ngủ đã chập chờn. Giữa bà Hường với tôi, tôi có thể vỗ ngực nói với bà rằng tôi vẫn đứng ở bên kia bờ tích tắc, bên kia sợi tơ. Nhưng giữa tượng Phật với tôi, giữa tôi với tôi, tôi đã bước qua bên này bờ từ lâu. Ý của tôi, tôi biết, Phật biết. Chị Luyến không có gì để xin lỗi tôi, tình cảm và hành động của chị trong sáng. Người không trong sáng với chị, với bà Hường, với tôi, là tôi. Có một chút gì giả dối nơi tôi khi tôi giả vờ với chính tôi, khi tôi tránh né không soi ánh sáng của lương tri đến tận biên giới của ý thức. Tôi quỳ xuống trước tượng, mơ hồ nghĩ đến mấy chữ "thân, miệng, ý" trong một bài kinh. Cháu gái bên cạnh kính cẩn nói nhỏ: "Dạ thưa, dưới tượng có mấy chữ". Tôi nâng tượng lên, thấy có dòng chữ viết, đúng là nét chữ của bà Hường; "Tượng này là của cậu Văn. Khi nào cậu đến chơi thì trao lại cho cậu". Tôi bàng hoàng bước xuống cầu thang, từ giã cháu gái, quên hỏi cháu là con ai, con của cô Thoa hay biết đâu là con của chị Luyến.
|
Lần đầu tiên ghé thăm blog của thầy. Mong được đọc và trao đổi những huyền nhiệm của Phật pháp. Chúc thầy luôn vui khỏe.
Viết bởi tranhoangvy — 02 Nov 2008, 10:50